CÁCH SUY NGHĨ THEO QUAN ĐIỂM CỦA KINH THÁNH VỀ CÁC 'HIỆN TƯỢNG'
ĐỨC THÁNH LINH (Hoặc CHÚA THÁNH THẦN trong một số cách dịch tiếng Việt)
Chúng ta bắt đầu bằng chữ LINH hay Spirit trong tiếng Anh, và pneuma trong tiếng Hy lạp, với ý
nghĩa là Hơi thỏ, gió, linh[1],
Các tác giả Tân Ước, chịu ảnh hưởng
của cả tư tưởng Do Thái và Hy Lạp, đã sử dụng "pneuma" để diễn đạt sự
hiện diện và công việc của Chúa trong cuộc sống của các tín đồ và nhà thờ. Từ
có các nghĩa trên nhưng dựa vào văn cảnh để xác định ý nghĩa. Khi
nói đến Đức Thánh Linh hay quyền năng của Ngài, luôn sử dụng chữ
“Holy” nghĩa là Thánh. Vì Thánh Kinh cũng sử dụng cũng một từ Thánh
Linh này để phân biệt và nhắc nhở cần cẩn trọng với những ‘linh giả
tạo’, là lời cảnh báo từ Giăng:
'Thưa anh em yêu dấu, đừng tin tất cả các thần linh, nhưng hãy thử xem các
thần linh đó có phải đến từ Đức Chúa Trời không, vì có nhiều kẻ tiên tri giả đã
xuất hiện trong thế gian. ' (I Giăng 4:1, VIE2010)
Cách thức để xem là Kiểm tra (dokimazo: To test, to prove, to examine,
to approve)[2],
đúng nghĩa là thử (kiểm tra) để chứng
minh điều gì đó là chấp nhận được (thực, được chấp thuận ); đưa
vào thử nghiệm để tiết lộ điều gì là tốt ( chính
hãng ) và không tập trung vào việc bác bỏ điều
gì đó (tức là cho thấy điều đó là xấu ). Sự cẩn trọng ở
đây theo lời dạy của Thánh Kinh khiến chúng ta cần đủ khoảng cách để
làm rõ.
Kiểm chứng bằng
(A) GIẢI NGHĨA KINH THÁNH, người có Đức Thánh Linh không thể đi
ngược lại với Lời Kinh Thánh, hoặc những thực hành không có trong sự
soi chiếu của Kinh thánh. Nhiều người đã sử dụng Kinh nghiệm tôn
giáo/ niềm tin của mình để xác định hay chứng minh Kinh thánh,
mỗi trải nghiệm khác nhau của mỗi người, mỗi văn hóa đưa ra những
‘kết quả’ khác nhau với những lập luận khác nhau, như thế Kinh thánh
được giải thích theo cách diễn giải, hiểu biết của Người đọc sách
chứ không được giải nghĩa theo Quan điểm của người viết. Đây là điều
vô cùng cẩn trọng, khi chúng ta đọc Kinh thánh theo hiểu biết, cảm
xúc, tâm thần… của mình (trong những trạng thái của Tâm lý) mà không
phải để Lời chúa tác động đến hiểu biết, cảm xúc, tâm thần của
mình. Khi chúng ta cảm thấy được ban phúc thì các đoạn thánh kinh
luôn có ý nghĩa về sự ban phúc, khi chúng ta cảm thấy được yêu, thì
Thánh Kinh luôn ‘đáng yêu’ và Chúa cũng đang yêu! Khi chúng ta buồn
bực, hay tội lỗi, thì theo đó Thánh kinh được giải thích theo tâm
trạng, kinh nghiệm và sự hiểu biết của chúng ta lúc đó. Sự thật bị
bóp méo theo giải thích, lập luận của Kinh nghiệm cá nhân, như kiểu
“Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ”.
Kinh thánh không được đọc trong ý nghĩa của chính đoạn văn, câu văn…
với chúng ta dù đang ở bất kể tâm trạng nào. (Ma-thi-ơ đã dùng một
chương để thuật lại lời giải nghĩa lại của Chúa về ý nghĩa của
Thánh Kinh, mỗi lần trích dẫn Chúa Giê-xu đều nói “Điều này được
chép rằng”, nhưng khi nói về phiên bản từ cách thầy biệt lập thì
“Các ông nghe rằng…”. Việc nghe đã bị méo mó hoặc ít nhất hiểu không
đủ, để khiến Chúa chỉnh lại cho đúng, xin vui lòng đọc bài giảng
trên núi trong các sách Phúc Âm)
Như vậy người có Thánh Linh của Chúa, là người biết về Chân Lý,
vì chính Đức Thánh Linh chính là Chân Lý: 'Khi Thần Chân lý đến, Ngài sẽ
dẫn các con vào mọi chân lý; vì Ngài không tự mình nói, nhưng sẽ nói những gì
mình nghe, và công bố cho các con những gì sẽ đến. Ngài sẽ tôn vinh Ta, vì Ngài
sẽ lấy những gì thuộc về Ta mà công bố cho các con. ' (Giăng 16:13-14, VIE2010)
Kinh nghiệm là KẾT QUẢ CỦA CHÂN LÝ, KHÔNG THỂ NÀO CHÂN LÝ ĐƯỢC
RÚT RA TỪ KINH NGHIỆM, Chân lý đến từ Chúa, và không thể rút ra
từ một số trải nghiệm hay kinh nghiệm của một số người. Một số
tuyên bố ‘gặp được Chúa’, hay thấy vinh quang của Ngài là điều chúng
ta không kiểm chứng được, chỉ riêng người đó với Chúa - có thể thật
(tôi mong là vậy và tôi cũng muốn được như vậy) và cũng có thể là
một hiện tượng tâm lý, một loại ảo giác như một nghiên cứu của
John White, gợi ý bốn cách có thể giải thích các biểu hiện nhiệt tình
[phấn khích thuộc linh]: (1) Mọi người tự làm điều đó với chính mình. Nghĩa
là, các biểu hiện có một lời giải thích về mặt tâm lý, hoặc là tự gây ra một
cách có ý thức hoặc vô thức. (2). Các nhà thuyết giáo làm điều đó với những người
nghe dễ bị ám thị - tạo ra cái gọi là chứng cuồng loạn tập thể hoặc thôi miên tập
thể. (3). Ma quỷ làm điều đó - hiện tượng đại diện cho một số hình thức kiểm
soát của ma quỷ. (4) Hoặc là Chúa làm điều đó, có lập luận rằng thôi miên là một
cơ chế có thể tạo ra những hiệu ứng này. Có lẽ không có gợi ý nào ở trên có thể
giải thích riêng lẻ tất cả các hiện tượng xảy ra, nhưng khi kết hợp lại, chúng
tạo ra sự xói mòn đáng kể đối với các tuyên bố rằng những hiện tượng như vậy
thường được coi là sự can thiệp kỳ diệu từ Chúa… [3],
tôi kính sợ Chúa của mình đủ để không đưa ra bất kỳ một kết luận
nào, vì điều này nằm ngoài sự hiểu biết của mình vì tôi có thể ở
trong sự “không thể tha thứ khi báng bổ Đức Thánh Linh” (Mác 3:28,
VIE2010) nhưng điều này cũng không ngăn cản tôi cho phép ai báng bổ
Chúa của tôi, bằng cách gán ghép mọi giải thích hay lý luận của con
người vào Ngài. Chúng ta lạm dụng và thật dễ để tuyên bố đó là do
“Đức Thánh Linh dẫn dắt…” nhưng không dựa trên bất cứ một giải thích
cặn kẽ nào từ Chân lý. Các việc dùng Thánh Kinh mà sự thao túng
bởi các giáo phái thường sử dụng được nêu ra trong Scripture
Twisting của tác giả James W. Sire [4]
khiến chúng ta cần rất chú ý trong hiểu biết của mình
về lẽ thật, cách thức là (1)Trích dẫn không chính xác (2)
Bản dịch bị bóp méo [theo ý nghĩa mình muốn] (3) Dùng Thánh
kinh như một “lưỡi móc câu” (4) Phớt lờ sự liên hệ bối cảnh [trong
tổng thể phân đoạn] (5) Phá vỡ bối cảnh [Của phân đoạn Thánh
Kinh] (6) Đi sâu vào tiểu tiết [không đúng trọng tâm] (7) Chơi
chữ (8) Ngụy biện [tráo đổi ngôn ngữ] (9) Suy
diễn lời Chúa (10) Tuyên bố nhưng không trưng dẫn bằng chứng
[từ lời Kinh thánh] (11) Trích dẫn theo ý muốn [chủ quan theo
chủ đề của mình] (12) Trích dẫn không đầy đủ [dữ liệu] (13) Định
nghĩa mơ hồ [gây bối rối] (14) Lảng tránh các giải nghĩa
thay thế (15) Sự Ngụy biện [cho là] hiển nhiên [dù không hề
biết chắc chắn] (16) Quy kết phẩm chất [theo nhóm người đó
thuộc về hay được nói đến] (17) Giải nghĩa mang tính huyền bí (18)
Thêm thẩm quyền khác cho Thánh Kinh [ví dụ như nói rằng đây
là sách Khoa học Vật chất hay Sinh học…] (19) Phủ nhận thẩm quyền
đúng của Kinh Thánh (20) Giải nghĩa bằng góc nhìn thế tục [bằng
những quan điểm hay định nghĩa thế tục]
Những lời GIẢI NGHĨA KINH THÁNH không được giải thích, hay bị
tránh né, xem nhẹ hay xem thường, thay vào đó nhấn mạnh những câu
chuyện về cảm xúc, kinh nghiệm cá nhân… và thật là mâu thuẫn với
việc “Ngài sẽ dẫn các con vào mọi chân lý”, cũng trong phân đoạn này,
chính Chúa nói rằng, Đức Thánh Linh sẽ tôn vinh Ta (Chúa Giê-xu),
người có Ngài sẽ:
(B) TÔN VINH ĐỨC CHÚA GIÊ-XU
Tôn vinh doksázō (nguồn gốc từ dóksa ,
"vinh quang") – tôn vinh ; đúng hơn là gán trọng
lượng bằng cách công nhận bản chất thực ( giá trị )[5]
Chúa Giê-xu đáng được ca tụng và tâm linh chúng ta xác nhận điều này,
nên sự dẫn dắt của Đức Thánh Linh hướng những người tin kính vào
Chúa Giê-xu hoàn toàn. Sự ca tụng hay vinh quang cho bất cứ một điều
gì khác ngoài Chúa, là điều tiếp theo tôi nghi ngờ về việc người đó
có đang thực sự được Đức Thánh Linh dẫn dắt.
Và thư Giăng xác nhận điều này,
'Bởi điều nầy, anh em nhận biết Thánh Linh của Đức Chúa Trời: Thần linh nào
thừa nhận Đức Chúa Jêsus Christ đã đến trong thân xác thì thần linh đó đến từ Đức
Chúa Trời; thần linh nào không thừa nhận như thế về Đức Chúa Jêsus thì không phải
đến từ Đức Chúa Trời. Đó là thần linh của kẻ chống Đấng Christ mà anh em nghe
nói sắp đến, và bây giờ đã ở trong thế gian rồi. '(I Giăng 4:2-3, VIE2010)
Như một lĩnh vực của tiếng lạ, từ này không có trong kinh thánh,
dịch nghĩa từ tiếng văn bản gốc γλῶσσα (glóssa: Tongue, Language) có nghĩa là Lưỡi, Ngôn ngữ Những
ai sử dụng bản KJV (King Jame Version) sẽ có chữ mô tả ‘unknown tongue’
mô tả “nói tiếng lạ” , đây là từ mà không hề có trong bản tiếng Hy
lạp, chỉ đơn giản là “Ngôn ngữ”. Tôi không bàn đến tính chính xác
của tính chất và thực hành điều này, vì vẫn còn nhiều tranh cãi
(về điều này có thực hữu không thời kỳ sau thời các sứ đồ). Nhưng
mục tiêu bài viết phục vụ cho một cách hiểu về việc sử dụng, lạm
dụng và “Nhân danh Chúa” trong những hiện tượng có yếu tố Tâm linh.
'Thế thì, các tiếng lạ không phải là dấu hiệu cho người tin, mà cho người
không tin; nhưng lời tiên tri không phải là dấu hiệu cho người không tin, mà
cho người tin. Vậy, khi cả Hội Thánh cùng nhóm lại, tất cả đều nói tiếng lạ, mà
có người bình thường và người chưa tin bước vào thì họ không nói rằng anh em
điên sao? Nhưng nếu tất cả đều nói tiên tri, mà có người không tin và người
bình thường bước vào thì họ sẽ bị thuyết phục và phán xét bởi tất cả các lời
tiên tri. Những điều ẩn giấu trong lòng họ được phơi bày; họ sẽ sấp mình xuống
thờ lạy Đức Chúa Trời, và tuyên bố rằng: “Đức Chúa Trời thật đang ở giữa anh
em.” ' (I Cô-rinh-tô 14:22-25, VIE2010)
Đoạn Kinh thánh mô tả về một trường hợp thờ phượng của Hội thánh
ở Cô-rinh-tô, về việc sử dụng ân tứ nói tiếng lạ, với việc xác
định của Phao-lô rất rõ ràng ‘Tiếng lạ’ là dấu hiệu cho người chưa
tin, là “một dấu hiệu (thường là
phép lạ), được ban cho đặc biệt để xác nhận, chứng thực hoặc xác thực. Sau đó
nhấn mạnh mục đích cuối cùng tôn vinh người ban cho nó. Theo đó, nó được sử dụng
hàng chục lần trong Tân Ước để chỉ những gì xác thực Chúa và mục đích
vĩnh cửu của Ngài , đặc biệt là bằng cách làm những gì mà con người
bình thường không thể sao chép hoặc nhận công lao.”[6]
Dấu hiệu này với kết quả sẽ khiến những người chưa tin khi tiếp xúc
‘sẽ bị thuyết phục và phán xét bởi tất cả các lời tiên tri. Những điều ẩn giấu
trong lòng họ được phơi bày; họ sẽ sấp mình xuống thờ lạy Đức Chúa Trời, và
tuyên bố rằng: “Đức Chúa Trời thật đang ở giữa anh em.”
“Đức Chúa Trời thật đang ở giữa anh em.”
Tôi nhấn mạnh đến kết quả, những người chưa tin khi thấy sẽ phải thốt lên một điều như thế, và ca ngợi Chúa. Không phải bởi vì họ được HẤP DẪN BỞI TÍNH HUYỀN BÍ, LẠ LÙNG, hay MỘT TRẢI NGHIỆM THÚ VỊ nhưng rõ ràng bởi LÒNG HỌ ĐƯỢC PHƠI BÀY NHỮNG ẨN GIẤU, HỌ THỜ LẠY ĐỨC CHÚA TRỜI. Như vậy Chúa Cứu Thế được tôn vinh. Và điều ấy xảy ra những người tin Chúa nói Tiên tri, không phải Tiếng Lạ, và nó kém quan trọng hơn khi đặt cùng những Ân tứ được Phao-lô liệt kê (I Cô-rinh-tô 14:5). Ân tứ này Kinh thánh dạy là xây dựng cho “chính mình” (I Cô-rinh-tô 14:4), và nếu nó được sử dụng nơi công cộng cần có sự thông dịch, và trong vòng trật tự, chỉ từ hai đến ba người là tối đa và nói theo thứ tự (I Cô-rinh-tô 14:17-18), và sự giảng dạy của Thánh Kinh là rất rõ ràng về thực hành nói tiếng lạ trong I Cô-rinh-tô 14, Tiếng Lạ được thực hành một cách riêng tư hay công cộng thì ngay chính người ấy cũng cần cầu nguyện để anh ta có thể hiểu được như sự dạy dỗ của Thánh Kinh rất rõ ràng (câu 13)
Do đó chỉ là Tiếng Lạ, thì đây cũng là một hiện tượng [Không xác
minh, hoặc chỉ là trải nghiệm cá nhân của một người] cần có sự soi
chiếu của Lời Kinh thánh với mệnh lệnh rất rõ ràng và được sử
dụng đúng cách [NẾU điều này là thật và thực sự đây là sự dẫn
dắt của Đức Thánh Linh] mà tôi sẽ đi sâu vào chủ đề cụ thể này ở
các phần tiếp theo cùng với những điều gọi là Ân tứ Thánh Linh như
Phép lạ và Chữa lành. Điều này là quan trọng vì có thể dẫn đến
sự nhầm lẫn và khó phân biệt. Các thầy phù thủy của Pha-ra-ôn cũng
có thể làm được một số những phép lạ trong Xuất Ai Cập 7-8 với
quyền năng của ma quỷ [hay chỉ là ‘ảo thuật’]. “Như Michel de Certeau
(1925–96) đã chỉ ra, việc gán ghép những niềm tin kỳ lạ cho tác động của ma thuật
và ma thuật đen thậm chí còn phổ biến hơn vào đầu thời kỳ hiện đại so với thời
Trung cổ, vì niềm tin vào ý chí tự do đã suy yếu (de Certeau 1990). Việc những
người tuyên bố có niềm tin kỳ lạ đã bị những thủ lĩnh độc ác có kỹ năng phù thủy
mê hoặc vẫn là một lý thuyết phổ biến ở Ý vào thế kỷ thứ mười tám, nơi các triết
gia hoài nghi khác vẫn tiếp tục ủng hộ nó”[7].
và trong Tân Ước các thầy Thông giáo cho rằng Chúa đã dùng quyền năng
của quỷ vương để đuổi quỷ và đây là sự xúc phạm đến Đức Thánh Linh
(Mác 3:20-30) và là điều không thể tha thứ. Chúng ta rơi vào một sự
bối rối nhất định ‘tiến thoái lưỡng nan’ vì khó phân định quyền năng
nào đến từ Sa-tan và đến từ Đức Thánh Linh. Kinh Thánh có những câu
trả lời cần thiết cho những gì chúng ta không hiểu, nên tôi khuyến
khích bạn quay trở lại với Lẽ thật, là điều chúng ta nhất định
phải bám víu để Kiểm chứng mọi điều và làm sáng tỏ mọi điều. Để
có thể thử nghiệm các tiên tri để xác định xem họ sai hay đúng và phán đoán xem
một giáo lý có phải của Chúa hay không.[8]
Việc liệu một người có thực sự được dẫn dắt bởi Đức Thánh Linh,
hay có giao tiếp trực tiếp với Chúa? cần được kiểm chứng cẩn trọng.
Ngoài dữ liệu Kinh thánh, một số nghiên cứu ở khía cạnh xã hội
học, hiện tượng tâm lý học, lịch sử tôn giáo… cũng cần được tham
khảo đến.
Ngay trong lịch sử Thánh Kinh, đầu thế kỷ thứ hai, những Cơ đốc nhân rất
coi trọng truyền thống truyền miệng. Sự coi trọng này được phản ánh trong tuyên
bố của Papias rằng ông thích các tài liệu từ 'một giọng nói sống động và liên tục'
hơn là từ sách; nó cũng là cơ sở cho tuyên bố của Basilides, người cùng thời với
ông theo thuyết Ngộ đạo, rằng ông sở hữu các truyền thống từ 'thông dịch viên'
của Phi-e-rơ là Glaukias. Valentinus theo thuyết Ngộ đạo nói rằng ông được
Theodas, một môn đồ của Phao-lô, hướng dẫn; chính môn đồ của Valentinus là
Ptolemaeus đã viết rằng học thuyết của nhóm này xuất phát từ truyền thống tông
đồ...Trong số những ví dụ sớm nhất về các tài liệu ngụy thư có bốn phúc âm: Theo
người Do Thái, Theo người Ai Cập, Theo Phi-e-rơ và Theo Thô-mai [Thomas] [9]
Những bản văn không phải là Kinh thánh và chưa bao giờ là Kinh thánh
và là thông điệp của Đức Chúa Trời, cùng những ghi nhận của những
người được gọi là Cơ đốc nhân.
Vào thế kỷ 19, Ludwig Feuerbach đã chỉ ra (trong tác phẩm The
Essence of Christianity) rằng đối tượng của đức tin có thể chỉ là
sự tự phóng đại (Self-projection) của chính người đó. Hoặc có lẽ sự
tin cậy của người này chỉ đơn giản đặt vào hình ảnh của người cha,
hoặc nơi một điều gì đó theo kiểu ấy. [10],
và mối quan hệ với Đức Chúa Trời và sự liên hệ có thể diễn biến
theo cách đó, một hiện tượng tâm lý. Hằng trăm triệu người Hồi giáo
và người Ấn Độ giáo gặp được vị thần qua những kinh thư của họ là
một thực tế, một số cũng nhấn mạnh giống y như bất kỳ một Cơ Đốc
nhân nào khác. Liệu họ sai, hay hết thảy chúng ta đều cùng gặp gỡ
cùng một Chúa [11]
như vậy ở khắp nơi, khắp lĩnh vực hay chủng tộc? Bất cứ một tuyên
bố nào liên quan đế sự mặc khải của Chúa, liên quan đến lĩnh vực
thiên nhiên cần dựa vào căn cứ đáng tin cậy, và với những công bố
liên quan đến ân điển Chúa, cần nhận biết bởi lý trí… giữa sự đa
dạng của văn hóa xã hội, thì Hội thánh đối diện với những người Do
Thái, Hồi Giáo, và thậm chí ngay cả những người hoàn toàn ngoại
đạo, nếu xét trên phạm vị rộng lớn. Việc trích dẫn thẩm quyền của
một người nào đó [vì được cho rằng có sự mặc khải của Chúa] là
điều không có giá trị. Người Do Thái sẽ chỉ trích kinh Toral của
mình, người Hồi giáo viện lấy Kinh Koran… [12]
Tuy vậy, chúng ta cũng không phủ nhận những Kinh nghiệm giác quan,
những trải nghiệm cá nhân cũng có những vai trò của nó, nhưng sẽ
không đủ cơ sở lập luận để đưa ra một tuyên bố áp dụng cho nhiều
người. Nếu quyền lực đi kèm với những tuyên bố kiểu như vậy, sẽ trở
thành một sự ‘áp bức’, thao túng…
Joseph Smith (1805-1844) [13], người tuyên bố đã nhận được một thị kiến
của thiên thần cho ông biết vị trí của các tấm bảng vàng chứa đựng sự mặc khải
của Chúa; ông đã xuất bản điều này vào năm 1830 với tên gọi là Sách Mặc
Môn (Book of Mormon) . Smith và những người theo ông đã chấp nhận
Kinh thánh cũng như các thánh thư thiêng liêng của người Mặc Môn nhưng lại đi
chệch đáng kể so với Cơ đốc giáo chính thống, đặc biệt là trong khẳng định của
họ rằng Chúa tồn tại trong ba thực thể riêng biệt là Đức Chúa Cha, Đức Chúa Con
và Đức Thánh Linh. Người Mặc Môn cũng tin rằng các thành viên trung thành của
giáo hội sẽ thừa hưởng cuộc sống vĩnh cửu như các vị thần." [14]
và nhiều ghi chép lịch sử về những cá nhân tuyên bố về sự liên hệ
trực tiếp hay hướng dẫn từ Đức Chúa Trời, những suy đoán về Ngày
tận thế, sự quay trở lại lần 2 của Chúa…, như một ví dụ của mẹ của
David Berg [với những ngày đầu của giáo phái the Children of God] đã
[tự cho rằng đã] nhận được lời tiên tri cảnh báo rằng thế giới đang tiến vào
Thời kỳ tận thế, giai đoạn áp chót trong lịch sử loài người ngay trước khi Chúa
Jesus Christ tái lâm, một thời kỳ được đánh dấu bằng sự gia tăng tình trạng bội
giáo và bất ổn xã hội. Trong những năm 1960, khu vực Huntington Beach ở phía
nam Los Angeles là điểm thu hút của nền văn hóa đối lập những năm 1960, và Berg
cùng những người theo ông bắt đầu làm chứng cho hàng nghìn người theo chủ nghĩa
hippy đổ xô đến đó. Hoạt động tại quán cà phê Light Club, một mục vụ tiếp cận cộng
đồng của tổ chức Teen Challenge nổi tiếng, Berg đã thành lập một nhóm ca hát có
tên là “Teens for Christ”, trở thành phương tiện chính để tuyển dụng[15],
và rất nhiều thông tin như vậy mà chúng ta có thể tham khảo trên các
phương tiện truyền thông, những nhóm với nhiều tên gọi khác nhau: giáo
phái khủng hoảng, phong trào bản địa, giáo phái cứu thế, giáo phái hàng hóa,
phong trào thiên đường, phong trào phục hồi, phong trào không tưởng, phong trào
khải huyền và phong trào thiên niên kỷ…[16].
Tính đúng đắn là khó kiểm chứng vì yếu tố cá nhân, nhưng kết quả
là cái có thể nhìn thấy được, và dẫn chúng ta đến những kết luận
thích hợp hơn. Hoffer, trongThe True Believer đưa ra khả năng rằng
các phong trào gây tranh cãi hoặc mang tính cách mạng như các giáo phái phá hoại
cuối cùng có thể phát triển thành các phong trào tương đối hợp lý và chính thống
hơn.[17]
Nên việc xem xét là rất quan trọng và cần cẩn trọng. Như chính Chúa
Giê-xu đã dạy: 'Nếu là cây lành thì quả cũng lành, nếu là cây độc thì quả cũng
độc; vì xem quả thì biết cây.’ (Ma-thi-ơ 12:33, VIE2010). Đời sống của một
người sẽ phản ánh bản chất thật của vấn đề, nhận biết được nhờ
kết quả. Trái của Thánh Linh là một đời sống: ‘'Yêu thương, vui mừng,
bình an, nhịn nhục, nhân từ, hiền lành, trung tín, khiêm nhu, tiết độ. '
(Ga-la-ti 5:22, VIE2010). Đây là bằng chứng mạnh mẽ nhất cho mọi phong
trào, hay những tuyên bố về những hiện tượng siêu nhiên, huyền bí.
Nhưng cũng đừng nhầm lẫn về quan điểm triết học, hay các chủ nghĩa
về những định nghĩa [về Trái Thánh Linh] này. Nếu không chúng ta lại
rơi vào một vòng xoáy của sự hỗn mang của những học thuyết chủ
nghĩa (thuyết nhị nguyên, chủ nghĩa khắc kỷ…[18],
hay là những phiên bản giải nghĩa Kinh thánh [19]
đa dạng và cũng mơ hồ. Những lập luận sắc bén không dựa hoặc chung
chung, hoặc không rõ ràng, đưa ra nhiều lời giải thích toàn diện về quá khứ,
hiện tại và tương lai, bao gồm cả con đường cứu rỗi. Những phương pháp luận
chính xác hoặc công thức, cho sự chuyển đổi cá nhân cần thiết để đủ điều kiện
đi trên con đường [niềm tin] của mình[20]
sẽ khiến chúng ta dễ chệch hướng. (C) TRÁI THÁNH LINH chính là một
sự kiểm chứng quan trọng trong đời sống của người Tin kính, thực có
sự dẫn dắt của Ngài và thực hành những điều ấy.
“Không có sự kiện kỳ diệu đương đại nào, bất kể đáng kinh ngạc
hay kỳ diệu đến đâu, về cơ bản có thể so sánh với Kinh thánh. Chúng phải được
thử nghiệm với Kinh thánh như một chuẩn mực. Nó có thể là một hiện tượng giả mạo
(2 Th 2: 9-11). Ngay cả khi đó là sự lặp lại của một lẽ thật trong Kinh thánh,
thì nó vẫn bị nhiễm bởi phản ứng tội lỗi của con người. Nó có thể tiết lộ một ý
tưởng về hoàn cảnh hiện đại. Nó có thể là sự hoán vị lẫn lộn giữa tính xác thực
và sự không chính xác. Tất cả những trải nghiệm như vậy đều được xem xét với
Kinh thánh như một tiêu chuẩn đáng tin cậy.” [21]
'Nhờ tác động của Sa-tan, kẻ gian ác sẽ đến với tất cả quyền năng cũng như
những phép mầu, dấu lạ giả dối; nó dùng mọi mưu chước gian ác để lừa gạt những
kẻ hư mất, vì họ không tiếp nhận tình thương của chân lý để được cứu rỗi. Vì thế,
Đức Chúa Trời phó mặc họ cho sự lầm lạc, khiến họ tin vào điều giả dối, để rồi
tất cả những người không tin chân lý, nhưng ưa thích sự gian ác đều sẽ bị kết
án. ' (II Tê-sa-lô-ni-ca 2:9-12, VIE2010)
[1]
Strong’s Concordance, “4151. Pneuma [Spirit/
Linh],” Bible Hub: Search, Read, Study the Bible in Many Languages
(Online Parallel Bible Project, n.d.), accessed December 24, 2024,
https://biblehub.com/greek/4151.htm.
[2]
Strong’s Concordance, “1381. Dokimazo [to
Test/ Kiểm Tra],” Bible Hub: Search, Read, Study the Bible in Many Languages
(Online Parallel Bible Project, n.d.), accessed December 24, 2024,
https://biblehub.com/greek/1381.htm.
[3]
David Middlemiss, “Criteria for the
Interpretation of Charismatic Experience. (An Episternology of Charismatic
Experience)” (Ph.D, Glasgow University, 1995), 272.
[4]
James W. Sire, Scripture Twisting: 20 Ways
the Cults Misread the Bible (Downers Grove, Illinois: Inter Varsity Press,
1980), 37.
[5]
Strong’s Concordance, “1392. Doxazó [To
Glorify/ Tôn Vinh],” Bible Hub: Search, Read, Study the Bible in Many
Languages (Online Parallel Bible Project, n.d.), accessed December 24,
2024, https://biblehub.com/greek/1392.htm.
[6]
Strong’s Concordance, “4592. Sémeion [Sign,
Miracle, Token, Indication/ Dấu Hiệu],” Bible Hub: Search, Read, Study the
Bible in Many Languages (Online Parallel Bible Project, n.d.), accessed
December 24, 2024, https://biblehub.com/greek/4592.htm.
[7]
Massimo Introvigne, Brainwashing: Reality
or Myth?, 1st ed. (United Kingdom: Cambridge University Press, 2022), 6,
accessed July 11, 2024,
https://www.cambridge.org/core/product/identifier/9781009029568/type/element.
[8]
Commission on Theology and Church Relations, The
Charismatic Movement and Lutheran Theology (Missouri: The Lutheran Church -
Missouri Synod, 1972), 18,
https://files.lcms.org/folder/B4C6EDC2-17A4-47C1-B71D-2743F6C88916.
[9]
Peter R. Ackroyd and C. F. Evans, eds., The
Cambridge History of the Bible. 1: From the Beginnings to Jerome, Repr.
(Cambridge: Cambridge University Press, 1993), 297.
[10]
Millard J. Erickson, Thần Học Cơ Đốc Giáo
[Christian Theology], trans. Union College of California, vol. 1 (Hà Nội:
NXB Văn Hóa Thông Tin, 2005), 222.
[11]
Millard J. Erickson, Thần Học Cơ Đốc Giáo
[Christian Theology], 1:223.
[12]
Millard J. Erickson, Thần Học Cơ Đốc Giáo
[Christian Theology], 1:185.
[13]
Introvigne, Brainwashing, 7.
[14]
Britannica Encyclopedia, “Mormon Summary,”
Online Encyclopedia, Britannica, accessed December 25, 2024,
https://www.britannica.com/summary/Church-of-Jesus-Christ-of-Latter-day-Saints.
[15]
Douglas E Cowan and David G. Bromley, Cults
and New Religions: A Brief History, 2nd ed. (Malden, MA; Oxford: Blackwell
Publishing Ltd, 2008), 102.
[16]
Richard Landes, ed., Encyclopedia of
Millennialism and Millennial Movements, Routledge Encyclopedias of Religion
and Society (New York: Routledge, 2000), xiii.
[17]
Rick Alan Ross, Cults Inside Out: How
People Get in and Can Get Out (North Charleston, South Carolina:
CreateSpace Independent Publishing Platform, 2014), 120.
[18]
Viện Thần Học Tin Lành Việt Nam, Thế giới
thời Tân Ước (California: Union University of California, 2006), sec. 5,
https://uuc0.sharepoint.com/sites/UUCLibrary/Shared%20Documents/Forms/AllItems.aspx?id=%2Fsites%2FUUCLibrary%2FShared%20Documents%2FUUC%20Publications%2FUUC%20Books%2FTh%E1%BA%BF%20gi%E1%BB%9Bi%20th%E1%BB%9Di%20T%C3%A2n%20%C6%AF%E1%BB%9Bc%2Epdf&parent=%2Fsites%2FUUCLibrary%2FShared%20Documents%2FUUC%20Publications%2FUUC%20Books&p=true&ga=1.
[19]
Larry A. Nichols, Alvin J. Schmidt, and
George Mather, Encyclopedic Dictionary of Cults, Sects, and World Religions,
Revised and updated edition. (Grand Rapids, Mich.: Zondervan, 2010), 147.
[20]
Janja Lalich, Bounded Choice: True
Believers and Charismatic Cults (Berkeley: University of California Press,
2004), 17.
[21]
Jin Young Song, “An Analysis and Evaluation
of the Anointing with the Spirit in Charismatic Movements: A Reformed
Assessment” (Philosophiae Doctor, University of Pretoria, 2013), 217, accessed
May 20, 2024,
https://www.proquest.com/internationalnews1/docview/1711720089/abstract/D853AC9DCBA4EE2PQ/1?accountid=147634&sourcetype=Dissertations%20&%20Theses.
THƯ MỤC TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU/ THAM KHẢO [Trong bài viết này]
Britannica Encyclopedia. “Mormon Summary.” Online Encyclopedia. Britannica. Accessed December 25, 2024. https://www.britannica.com/summary/Church-of-Jesus-Christ-of-Latter-day-Saints.
Commission on Theology and Church Relations. The Charismatic Movement and Lutheran Theology. Missouri: The Lutheran Church - Missouri Synod, 1972. https://files.lcms.org/folder/B4C6EDC2-17A4-47C1-B71D-2743F6C88916.
David Middlemiss. “Criteria for the Interpretation of Charismatic Experience. (An Episternology of Charismatic Experience).” Ph.D, Glasgow University, 1995.
Douglas E Cowan and David G. Bromley. Cults and New Religions: A Brief History. 2nd ed. Malden, MA; Oxford: Blackwell Publishing Ltd, 2008.
Introvigne, Massimo. Brainwashing: Reality or Myth? 1st ed. United Kingdom: Cambridge University Press, 2022. Accessed July 11, 2024. https://www.cambridge.org/core/product/identifier/9781009029568/type/element.
James W. Sire. Scripture Twisting: 20 Ways the Cults Misread the Bible. Downers Grove, Illinois: Inter Varsity Press, 1980.
Janja Lalich. Bounded Choice: True Believers and Charismatic Cults. Berkeley: University of California Press, 2004.
Jin Young Song. “An Analysis and Evaluation of the Anointing with the Spirit in Charismatic Movements: A Reformed Assessment.” Philosophiae Doctor, University of Pretoria, 2013. Accessed May 20, 2024. https://www.proquest.com/internationalnews1/docview/1711720089/abstract/D853AC9DCBA4EE2PQ/1?accountid=147634&sourcetype=Dissertations%20&%20Theses.
Millard J. Erickson. Thần Học Cơ Đốc Giáo [Christian Theology]. Translated by Union College of California. Vol. 1. 2 vols. Hà Nội: NXB Văn Hóa Thông Tin, 2005.
Nichols, Larry A., Alvin J. Schmidt, and George Mather. Encyclopedic Dictionary of Cults, Sects, and World Religions. Revised and Updated edition. Grand Rapids, Mich.: Zondervan, 2010.
Peter R. Ackroyd and C. F. Evans, eds. The Cambridge History of the Bible. 1: From the Beginnings to Jerome. Repr. Cambridge: Cambridge University Press, 1993.
Richard Landes, ed. Encyclopedia of Millennialism and Millennial Movements. Routledge Encyclopedias of Religion and Society. New York: Routledge, 2000.
Ross, Rick Alan. Cults Inside Out: How People Get in and Can Get Out. North Charleston, South Carolina: CreateSpace Independent Publishing Platform, 2014.
Strong’s Concordance. “1381. Dokimazo [to Test/ Kiểm Tra].” Bible Hub: Search, Read, Study the Bible in Many Languages. Online Parallel Bible Project, n.d. Accessed December 24, 2024. https://biblehub.com/greek/1381.htm.
———. “1392. Doxazó [To Glorify/ Tôn Vinh].” Bible Hub: Search, Read, Study the Bible in Many Languages. Online Parallel Bible Project, n.d. Accessed December 24, 2024. https://biblehub.com/greek/1392.htm.
———. “4151. Pneuma [Spirit/ Linh].” Bible Hub: Search, Read, Study the Bible in Many Languages. Online Parallel Bible Project, n.d. Accessed December 24, 2024. https://biblehub.com/greek/4151.htm.
———. “4592. Sémeion [Sign, Miracle, Token, Indication/ Dấu Hiệu].” Bible Hub: Search, Read, Study the Bible in Many Languages. Online Parallel Bible Project, n.d. Accessed December 24, 2024. https://biblehub.com/greek/4592.htm.
Viện Thần Học Tin Lành Việt Nam. Thế giới thời Tân Ước. California: Union University of California, 2006. https://uuc0.sharepoint.com/sites/UUCLibrary/Shared%20Documents/Forms/AllItems.aspx?id=%2Fsites%2FUUCLibrary%2FShared%20Documents%2FUUC%20Publications%2FUUC%20Books%2FTh%E1%BA%BF%20gi%E1%BB%9Bi%20th%E1%BB%9Di%20T%C3%A2n%20%C6%AF%E1%BB%9Bc%2Epdf&parent=%2Fsites%2FUUCLibrary%2FShared%20Documents%2FUUC%20Publications%2FUUC%20Books&p=true&ga=1.
(Hãy theo dõi trên akoḗ hoặc MEDIATING ON SCRIPTURE để được cập nhật các học hỏi, và chia sẽ rộng rãi nếu bạn thấy điều này là ích lợi)
Nếu ai có tai để nghe, hãy nghe!” (Mác 4:23, VIE2010)




Comments