GHI CHÚ BÀI GIẢNG #1 GIẢI NGHĨA KINH THÁNH
'nhưng hãy tôn cao Đấng Christ là thánh, là Chúa trong lòng anh em. Luôn sẵn sàng để trả lời những kẻ chất vấn về niềm hi vọng trong anh em, nhưng phải ôn tồn và trân trọng. ' (I Phi-e-rơ 3:15, VIE2010)
'Thưa anh em, những người yêu dấu của Đức Chúa Trời, chúng tôi biết Ngài đã chọn
anh em; vì Tin Lành chúng tôi đã truyền cho anh em không chỉ bằng lời nói,
nhưng cũng bằng quyền năng, bằng Đức Thánh Linh và niềm xác tín sâu xa nữa. Anh
em biết rõ khi còn ở giữa anh em, chúng tôi đã sống vì anh em như thế nào. ' (I
Tê-sa-lô-ni-ca 1:4-5, VIE2010)
DẪN NHẬP
Thông Tin Chuyển hóa thành Thông điệp, và từ Thông điệp Chuyển hóa
thành Thực Hành
Như vậy sự Chuyển hóa là một quá trình quan trọng để kết quả và
nguyên mẫu giống nhau, sự chuyển hóa này có thể gọi bằng sự Giải
thích Kinh thánh và Các ngành học về các nguyên tác Giải nghĩa. Qúa
trình này đi cùng với các yếu tố không thể thiếu là Ngôn ngữ (cùng
với Văn hóa & Lịch sử của nó) và các phiên bản dịch thuật,
chuyển ngữ…. Kinh Thánh ngày nay có sẵn bằng hơn hai nghìn ngôn ngữ, giúp nhiều
người tiếp cận dễ dàng hơn. Tuy nhiên, dịch chữ nghĩa đơn thuần không đồng
nghĩa với việc nắm bắt ý nghĩa sâu sắc của chúng. Các nhà ngôn ngữ học nhận ra
rằng phần lớn thông điệp không chỉ nằm ở từ ngữ mà còn trong bối cảnh và hiểu
biết chung giữa người giao tiếp. Những yếu tố như lịch sử chung của Phao-lô với
người Cô-rinh-tô, bối cảnh văn hóa của Lu-ca, hay trải nghiệm về đế quốc La Mã
trong sách Khải Huyền đều ảnh hưởng đến cách người đọc hiểu lời Kinh Thánh, làm
phong phú thêm ý nghĩa của chúng.[1]
Chúng ta có một Thông điệp đúng, vì đã có một Thông tin đúng, lời
Thánh Kinh được công nhận có thẩm quyền vì quá trình quy điển hóa
văn bằng dựa trên tiêu chí (1) rằng những tài liệu đó phải được một trong
các sứ đồ của Giê-su chứng thực và (2) rằng tài liệu đó phải đúng với sự dạy dỗ
của chính Chúa Giêsu trong từng vấn đề cụ thể.[2].
Chúa Jesus là người Do Thái và những người theo Ngài đầu tiên cũng là người Do
Thái. Hầu hết những người viết các tài liệu Tân Ước đều là người Do Thái. Họ được
nuôi dưỡng trong nền văn hóa Do Thái, điều này ảnh hưởng đến cách họ suy nghĩ,
giảng dạy và phản ứng trong những hoàn cảnh khác nhau của họ.[3]
Và những cố gắng giải nghĩa mà tách cái nhìn này ra khỏi bối cảnh
sẽ dễ dẫn đến sự hiểu sai và ngộ nhận đáng tiếc. Ở một mặt khác,
Tân Ước không phải là một tập hợp các sách lịch sử, do đó không ghi hết tất cả
những diễn biến trong Hội Thánh hay xã hội. Nên bởi vì các lý do đó, chúng ta
không nên xem thường những tác phẩm của các Cơ Đốc nhân khác viết về những vấn
đề niềm tin và Hội Thánh vốn có thể giúp chúng ta hiểu rõ hơn nội dung Kinh
Thánh. Các tác giả và tác phẩm Cơ Đốc điển hình: Clement,giám mục thành La Mã,
viết cho Hội Thánh Cô-rinh-tô vào cuối thế kỷ thứ 1; Didache, lời dạy dỗ của 12
sứ đồ; thư tín của Diognetus, Người Chăn ở Hermas, thư tín của Ba-na-ba,
v.v...” [4]
Với sự trỗi dậy của ý thức lịch sử hiện đại, một cách tiếp cận mới đối với
Kinh thánh đã được giới thiệu. Nếu bạn muốn cô đọng hơn hoặc làm rõ một số điểm
nhất định, bạn có thể nhấn mạnh rằng:
- Cách tiếp cận lịch sử
giúp hiểu Kinh Thánh trong bối cảnh nguyên thủy của nó và phá vỡ các cách
đọc giáo điều.
- Tuy nhiên, điều này có
thể dẫn đến việc Kinh Thánh bị xem như một tài liệu thuần túy lịch sử, làm
lu mờ giá trị thần học và ý nghĩa đức tin của nó.
- Quyền uy của Kinh Thánh
theo cách tiếp cận này không nằm ở văn bản hiện có mà ở "sự
thật" lịch sử được tái dựng, điều này giới hạn cách Kinh Thánh có thể
được hiểu và áp dụng.
Cách tiếp cận cá nhân đối với Kinh Thánh nhấn mạnh ý nghĩa cứu rỗi của nó đối
với từng cá nhân, đối lập với các phương pháp học thuật và lịch sử. Kinh Thánh
được xem như một thông điệp cá nhân về sự tha thứ và lòng thương xót của Chúa
trong Chúa Jesus Christ. Tuy nhiên, khi tách rời khỏi ý nghĩa chung "vì
chúng ta" và "vì thế giới", cách tiếp cận này trở nên méo mó,
thu hẹp Kinh Thánh chỉ còn là công cụ phục vụ trải nghiệm cá nhân. Điều này dẫn
đến sự rút lui của nhà thờ và thần học, đẩy đức tin vào lĩnh vực riêng tư và xa
rời cộng đồng. [5]
Ân điển của Chúa không hủy bỏ tự do con người mà đổi mới và trao quyền hợp
tác với Ngài. Nếu phủ nhận tính nhân văn của các tác giả Kinh Thánh, chúng ta
cũng phủ nhận tính nhân văn của Chúa Jesus. Như Chúa Jesus vừa là Thiên Chúa vừa
là con người, những nhân chứng Kinh Thánh cũng không chỉ là công cụ thụ động của
Thánh Linh. Nghiên cứu lịch sử Kinh Thánh mang rủi ro vì có thể thách thức những
điều ta từng tin, nhưng đó là rủi ro không thể tránh khi Chúa hành động trong lịch
sử. Sự Nhập Thể của Ngôi Lời (Giăng 1:14) cho thấy Lời Chúa đi vào thực tại lịch
sử với mọi mơ hồ và rủi ro của nó.
Đọc Kinh thánh theo nghĩa sâu sắc nhất về mặt lịch sử là đọc Kinh thánh với
mục đích mở rộng câu chuyện về hoạt động giải phóng của Chúa trong Chúa Kitô đến
thời đại của chúng ta và xa hơn nữa thông qua quyền năng của Thánh Linh Ngài.
Chúng ta phải hỏi Kinh thánh không chỉ về quá khứ mà Kinh thánh kêu gọi chúng
ta nhớ lại, mà còn về những lời hứa mà Kinh thánh muốn chúng ta tuyên bố ở đây
và bây giờ, và về tương lai mà Kinh thánh muốn chúng ta cầu nguyện và làm việc.
Điều này có nghĩa là chúng ta không nên ngạc nhiên khi ý nghĩa đầy đủ của sự tự
do mới trong Chúa Kitô không được hiểu và hiện thực hóa một cách hoàn hảo trong
hội thánh sơ khai.(Daniel L. Migliore, 2014, p. 84)
(a) Kinh thánh phải được diễn giải với sự nhạy cảm về mặt lịch sử và văn học;
tuy nhiên, lời chứng độc đáo của Kinh thánh về Thiên Chúa hằng sống chống lại sự
giam cầm của nó trong quá khứ hoặc sự giản lược của nó thành để [lập lối nên
lối sống] ngoan đạo.
(b) Kinh thánh phải được giải thích theo hướng thần học; tuy nhiên, danh tính của
Chúa được mô tả lại một cách triệt để trong câu chuyện bao quát của Kinh thánh
là Chúa ba ngôi, tức là Chúa của Israel đến với chúng ta trong Chúa Giêsu Kitô
bởi quyền năng của Thánh Linh.
(c)Kinh thánh phải được diễn giải cùng trong cộng đồng Hội thánh, nghĩa
là trong bối cảnh của đời sống tâm linh, sự thờ phượng và sự xác tín [làm
chứng] của Cá nhân & Hội thánh
(d)Kinh thánh phải được diễn giải theo ngữ cảnh; tuy nhiên, ngữ cảnh diễn giải
của chúng ta không được giới hạn trong lịch sử cá nhân của chúng ta hoặc trong
địa phương trực tiếp của chúng ta.
Giải nghĩa Kinh Thánh là điều cần thiết để diễn giải Kinh Thánh một cách hợp lệ,
giúp ta lắng nghe đúng tiếng Chúa thay vì bị chi phối bởi văn hóa hay thành kiến
cá nhân. Một hệ thống hermeneutics cẩn thận giúp khám phá ý định của văn bản và
điều Chúa muốn truyền đạt qua con người. Việc lạm dụng Kinh Thánh để chứng minh
quan điểm cá nhân có thể dẫn đến bóp méo ý nghĩa của Lời Chúa. Do đó, Giải
nghĩa Kinh Thánh đúng đắn cung cấp khuôn khổ để diễn giải chính xác và bảo vệ
Kinh Thánh khỏi sự sử dụng sai mục đích. [6] ”Đọc
Kinh Thánh phải là một hình thức cầu nguyện. Kinh Thánh phải được đọc trong sự
hiện diện của Chúa và như sự mở ra của tâm trí Ngài. Nó không chỉ là một cuốn
sách, mà là bức thư tình của Chúa gửi cho bạn. Đó là sự bày tỏ của Chúa, tâm
trí của Chúa, hoạt động thông qua tâm trí và việc đọc của bạn, vì vậy việc đọc
của bạn là phản ứng của bạn đối với tâm trí và ý muốn của Ngài”[7]
CÁC CÁCH TIẾP CẬN KINH THÁNH PHỔ BIẾN
(A) Reader-response criticism/ phê bình phản hồi của người đọc
với điểm nhấn mạnh chính yếu là: “Thay vì tập trung vào tác giả của văn
bản và vấn đề phức tạp về ý định của tác giả, các học giả Kinh thánh nên quan
tâm đến người đọc văn bản và vai trò của người đọc trong việc tạo ra ý nghĩa.”[8]
Người đọc tạo nên ý nghĩa bởi tương tác của chính mình với những
điều mình đọc hay lập luận, tác giả và ý đồ của người viết không
mấy quan trọng, và họ đã xong ‘nhiệm vụ’ của họ.
Như câu chuyện nổi tiếng về Người Sa-ma-ri nhân lành, sự chú trọng
đến giải thích về Đạo đức và sự dạy dỗ đạo đức về Tình yêu là
một ngã rẽ sai lệch, khiến Thông điêp trở nên méo mó. Chúng ta hài
lòng với sự diễn giải này, và áp dụng bài học như một giáo trình
tuyệt vời về tình yêu người và cách mà người với người yêu thương
nhau. Thần học giải phóng[9]
dựa vào đoạn Thánh Kinh này để lập luận về tình yêu thúc đẩy sự suy
ngẫm về cách chúng ta đối xử với người khác và thúc đẩy sự hiểu biết sâu sắc
hơn về các nguyên tắc của Cơ đốc giáo về lòng trắc ẩn và lòng vị tha. Ngoài ra,
câu chuyện ngụ ngôn này còn truyền cảm hứng cho các mục vụ và sứ mệnh của Cơ đốc
giáo tập trung vào việc hỗ trợ những người đang gặp khó khăn. Nó thúc đẩy các
cá nhân và tổ chức tích cực tham gia vào các nỗ lực nhân đạo, cung cấp hỗ trợ
thiết thực cho những người yếu thế, bị thiệt thòi và dễ bị tổn thương. Câu chuyện
này trở thành động lực chỉ đạo, định hình các mục tiêu và tinh thần của nhiều sứ
mệnh của Cơ đốc giáo tập trung vào việc giảm bớt đau khổ và thúc đẩy hạnh phúc
toàn diện trong cộng đồng.[10]
Trong tinh thần nhân văn nói chung, thì điều này nghe có vẻ như rất
tốt đẹp, truyền thống còn những giải thích vô lý khác khi giải
nghĩa đoạn này, như Origen (185-254), là nhà thần học và học giả Kinh thánh
quan trọng nhất của nhà thờ Hy Lạp sơ khai[11]
diễn giải:
“Người đàn ông đi xuống là A-đam. Giê-ru-sa-lem là
thiên đàng, còn Giê-ri-cô là thế gian. Những kẻ cướp là các thế lực thù địch.
Thầy tế lễ là Luật pháp, người Lê-vi là các tiên tri, và người Sa-ma-ri chính
là Đấng Christ. Những vết thương là sự bất tuân, con vật chở người bị thương là
thân thể của Chúa, còn quán trọ (nghĩa là chuồng ngựa), nơi đón nhận tất cả những
ai muốn vào, là Hội Thánh. Hơn nữa, hai đơ-na-ri-út [đơ-ni-ê] tượng trưng cho Đức
Chúa Cha và Đức Chúa Con. Người quản lý quán trọ là người đứng đầu Hội Thánh,
người được giao phó trách nhiệm chăm sóc. Và việc người Sa-ma-ri hứa sẽ quay lại
tượng trưng cho sự tái lâm của Đấng Cứu Thế.” [12]
Một lối giải nghĩa tùy ý và người giải thích, tùy vào cảm xúc,
vai trò, chức vụ hay bất cứ bối cảnh nào của người đọc tác động
lên cách giải thích xa rời bối cảnh của câu chuyện, sẽ dẫn chúng ta
đến những Thông điệp, hoặc cái đích đến không phải là ý nghĩa của
Văn bản. Sự phát triển của điều này dẫn dắt thêm các lối giải
nghĩa khác như Phê bình Kinh thánh theo Nữ quyền [giới tính] chỉ ra rằng
Kinh thánh không chỉ thù địch với phẩm giá và phúc lợi của phụ nữ mà còn được sử
dụng như một công cụ của nền văn hóa thống trị (mà những người theo chủ nghĩa nữ
quyền da trắng là một phần) để khuất phục người Mỹ gốc Phi và biện minh cho
hàng thế kỷ áp bức.[13]
(B) The interpretative community/ Cộng đồng diễn giải là
một cách tiếp cận khác. Những người đọc Kinh thánh không thể không chịu ảnh
hưởng của cộng đồng đã dạy họ cách đọc Kinh thánh, và họ sẽ được điều kiện để
nhìn nhận một văn bản từ một góc độ cụ thể, được thông báo bởi khuynh hướng diễn
giải của cộng đồng mà họ là một phần. Nếu mục tiêu của một cộng đồng diễn giải
cụ thể là đọc Kinh thánh theo một cách nhất định, văn bản sẽ được xem xét bằng
con mắt đã được thông báo bởi các mục tiêu, niềm tin và giả định
của cộng đồng diễn giải đang được đề cập. Mỗi cộng đồng có tiêu chuẩn và thước
đo riêng, và một diễn giải chỉ được xem là hợp lệ khi cộng đồng chấp nhận nó. Sự
đồng thuận này rất quan trọng, vì không có tiêu chuẩn khách quan tuyệt đối để
đánh giá tính hợp lệ của một cách hiểu ngoài sự công nhận của cộng đồng.Trong
nghiên cứu Kinh thánh, trọng tâm không phải là xác minh tuyệt đối mà là
thuyết phục, khi các học giả trình bày quan điểm để đạt được sự đồng thuận.
Những cách diễn giải quá kỳ quặc sẽ bị loại bỏ vì không được cộng đồng chấp nhận.
Người đọc Kinh thánh, dù là học giả hay tín đồ, đều chịu sự đánh giá của cộng đồng
tương ứng của họ. Khái niệm "cộng đồng diễn giải" giúp cân bằng giữa
tính chủ quan và khách quan trong việc đọc Kinh thánh. Nó bác bỏ quan điểm cho
rằng ý nghĩa chỉ đơn thuần nằm trong văn bản chờ được khám phá, nhưng cũng
không chấp nhận diễn giải tùy tiện. Quyền diễn giải chuyển từ tác giả/văn bản
sang cộng đồng độc giả, những người đóng vai trò kiểm duyệt, chấp nhận hoặc bác
bỏ các cách đọc. [14]
Một số tiếp cận khác nữa như là Ideological Criticism/ Phê Bình
Tư tưởng quan tâm đến việc nghiên cứu về tư tưởng được ghi trong văn
bản Kinh thánh mà còn quan tâm đến nền tảng của tư tưởng được chấp nhận (có
ý thức hay không) bởi người giải thích Kinh thánh, vì người ta cho rằng nền
tảng tư tưởng của học giả có thể ảnh hưởng đến kết quả giải thích của họ.
(Tư tưởng của người cai trị hay bị cai trị, của nền văn hóa, bối
cảnh của người giải thích…)
Trong một nghiên cứu thống kê Luận văn tiến sĩ để mô tả và phân tích sự
khác biệt văn hóa giữa các thế hệ người Việt trong Hội thánh Việt Nam tại
Hoa Kỳ.[15]
chỉ số (bảng giá trị quốc gia của Hofstede) cá nhân chủ nghĩa của Hoa Kỳ đứng đầu
với mức 91. Ngược lại, Việt Nam có chỉ số rất thấp, thấp hơn Hoa Kỳ 71 điểm. Với
số điểm 20, Việt Nam là một xã hội tập thể. Lòng trung thành trong văn hóa tập
thể là tối quan trọng và vượt lên hầu hết các quy tắc và quy định xã hội khác.
Văn hóa này khuyến khích các mối quan hệ bền chặt, nơi mọi người có trách nhiệm
với các thành viên khác trong nhóm của mình. Do đó, khi mắc lỗi, người ta cảm
thấy xấu hổ và mất thể diện. Đây là lý do tại sao văn hóa Việt Nam được xem là
một nền văn hóa “xấu hổ” gắn liền với xã hội tập thể.
Hoa Kỳ được coi là một nền văn hóa có tính cá nhân chủ nghĩa cao, nơi con
người quen với việc tương tác với người lạ và sẵn sàng tiếp cận đối phương để
tìm kiếm thông tin. Khái niệm “xấu hổ” hay biểu hiện sự không hài lòng trước
công chúng dựa trên cảm giác về nghĩa vụ tập thể và sự hài hòa. Nếu một người
thuộc về một nhóm mà vi phạm các quy tắc xã hội, họ sẽ cảm thấy xấu hổ. Một
khái niệm đặc biệt là “thể diện,” mô tả mối quan hệ phù hợp với môi trường xã hội
của một người. “Mất mặt” là cảm giác bị sỉ nhục.
Tính tập thể: Sự hài hòa nên luôn được duy trì và tránh đối đầu trực tiếp,
Tình bạn được định sẵn từ trước. Giao tiếp ngữ cảnh cao chiếm ưu thế. Lỗi lầm dẫn
đến sự xấu hổ và mất thể diện cho bản thân và nhóm. Mối quan hệ được coi trọng
hơn nhiệm vụ. Lợi ích tập thể được ưu tiên hơn lợi ích cá nhân. Quan điểm được
định sẵn theo sự thuộc về nhóm.
Ngược lại với tính cá nhân cao: Nói lên suy nghĩ của mình là đặc điểm của
một người trung thực. Tình bạn là tự nguyện và cần được nuôi dưỡng. Giao tiếp
ngữ cảnh thấp chiếm ưu thế. Lỗi lầm dẫn đến cảm giác tội lỗi và mất tự trọng.
Nhiệm vụ được coi trọng hơn mối quan hệ. Lợi ích cá nhân được ưu tiên hơn lợi
ích tập thể. Mọi người được mong đợi có ý kiến riêng.
Những chi phối văn hóa nuôi dưỡng hoặc trong sự chi phối của người
nghiên cứu Kinh thánh, sẽ rất ảnh hưởng đến anh ta khi ngồi xuống với
Lời Chúa trong lòng mình, và thông điệp có thể bị méo mó bởi chính
văn hóa cá nhân bên trong.
Canonical criticism/ Phê Bình Kinh điển: Đọc Kinh thánh phải
bao gồm việc giải thích toàn bộ liên quan đến các phần của nó và các phần của
nó liên quan đến toàn bộ, và ý nghĩa của từng tuyên bố phải được đo lường trong
bối cảnh của toàn bộ Kinh thánh. Kinh thánh thiết lập một số chuẩn mực và giá
trị là có thể chấp nhận được và một số khác là không thể chấp nhận được, và bất
kỳ ấn tượng nào do các sự cố hoặc điều khoản riêng lẻ để lại, đều có một 'xu hướng
chung' cần được phân biệt, điều này làm rõ ràng điều gì là bắt buộc và điều gì
là bị cấm.
Chúng ta đều biết mệnh lệnh của Chúa Jesus rằng, ‘là các con phải
yêu thương nhau. Như Ta đã yêu thương các con thể nào thì các con cũng hãy yêu
thương nhau thể ấy. ' (Giăng 13:34, VIE2010), nhưng liệu tình yêu này áp
dụng cho tất cả mọi người, hay mọi cách khi chúng ta đọc đến lời
này: 'Môi miệng sốt sắng mà lòng dạ độc ác Khác nào bình gốm tráng bạc pha. Kẻ
ghen ghét giả vờ ngoài môi miệng, Nhưng trong lòng mưu việc dối gian; Khi nó
nói ngon ngọt thì chớ tin, Vì trong lòng nó có bảy điều ghê tởm. ' (Châm Ngôn
26:23-25, VIE2010), nhưng rồi tình yêu anh em là điều chứng minh chúng ta
ở trong ánh sáng của Thượng Đế: 'Người nào nói mình ở trong ánh sáng mà
ghét anh em mình thì còn ở trong bóng tối. Ai yêu thương anh em mình thì ở
trong ánh sáng, nơi người ấy không có điều gì gây cho vấp phạm. Nhưng ai ghét
anh em mình thì ở trong bóng tối, bước đi trong bóng tối và không biết mình đi
đâu, vì bóng tối đã làm mù mắt người. ' (I Giăng 2:9-11, VIE2010) và chúng ta
sẽ áp dụng tình yêu này như thế nào với tình huống này 'Thưa anh em,
tôi khuyên anh em hãy coi chừng những kẻ lập bè đảng và gây vấp phạm, chống lại
sự dạy dỗ mà anh em đã học. Hãy tránh xa họ đi. Vì những kẻ đó chẳng phục vụ Đấng
Christ, Chúa chúng ta, nhưng phục vụ chính cái bụng của họ; họ dùng lời lẽ đường
mật, dua nịnh để lừa dối những tấm lòng thật thà. ' (Rô-ma 16:17-18, VIE2010),
và còn rất nhiều những chủ đề trong Kinh thánh mà sự trích dẫn
tách khỏi toàn bộ Kinh thánh để minh họa cho một ý tưởng, khiến
việc áp dụng trở nên chủ quan và dễ trở thành công cụ cho sự thao
túng thuộc linh.
Tập trung quá hẹp vào các văn bản được chọn chỉ dẫn đến sự bóp méo chứng
ngôn đạo đức và thần học của Kinh thánh, và khuyến khích người đọc tìm kiếm sự
bảo đảm cho một quan điểm cụ thể, hoặc sự biện minh cho một hành động cụ thể, bằng
cách tham khảo một câu hoặc đoạn văn cụ thể trong Kinh thánh.
Cách thức này chống lại nguy cơ đánh giá chủ đề của Kinh thánh theo cách
được xác định trước và đưa ra các kết luận là tích cực hoặc tiêu cực, cách
này là giải pháp cho việc chống lại sự kêu gọi chọn lọc các văn bản chứng
minh được ưa thích.
Điều này khiến chúng ta cần càng cẩn trọng trong sự học hỏi, một
số câu hỏi có thể khiến chúng ta suy nghĩ trong suốt quá trình nghiên
cứu cá nhân, hoặc nhận bất kỳ một thông điệp nào: (ĐÚNG - ĐỦ
1. Việc công bố và thực hành của cộng đồng đức tin có đúng với sự mặc khải
của Thiên Chúa trong Chúa Giêsu như đã được chứng thực trong Kinh thánh không?
[16]
Trong thời đại hiện nay, có nhiều phúc âm giả được công bố, từ các giáo phái đến
những tư tưởng phân biệt chủng tộc, giới tính, các thực hành theo đức
tin... Điều quan trọng là cộng đồng những người Tin Chúa không thể ngừng tự
hỏi liệu mình có đang hiểu đúng phúc âm - chính là ‘Tin Lành của Đức Chúa
Trời’ (Rô-ma 1:1, VIE2010) hay không, và thần học tồn tại để giữ cho câu hỏi
này luôn sống động, để duy trì sự cảnh giác về đức tin và tránh bị sai lệch..bởi
‘một tin lành khác. '(Ga-la-ti 1:6, VIE2010)
2. Việc công bố và thực hành của cộng đồng đức tin có diễn đạt đầy đủ
toàn bộ chân lý về sự mặc khải của Thiên Chúa trong Chúa Giêsu Kitô không?
[17]
Các giáo lý Cơ đốc giáo cần phải tạo thành một tổng thể mạch lạc, không
thể tách rời, vì mỗi phần trong đó đều liên kết với nhau trong câu chuyện lớn của
cứu chuộc, sáng tạo, và hy vọng. Thần học phải đặt câu hỏi về tính toàn vẹn của
phúc âm, như khi đối mặt với những vấn đề về chủng tộc, giới tính, sinh thái,
công lý xã hội, hay sự cứu rỗi cá nhân. Thần học Cơ đốc cần tìm kiếm sự trọn vẹn
của phúc âm để mang lại sự hiệp nhất trong đa dạng và hòa bình mà không thỏa hiệp
công lý cũng như sự trọn vẹn mà chúng ta cần tìm kiếm và nhận biết
về Đức Chúa Trời của chúng ta, rằng ‘'để cùng với tất cả các thánh đồ,
anh em có thể thấu hiểu chiều rộng, chiều dài, chiều cao, chiều sâu của tình
yêu ấy, '(Ê-phê-sô 3:18, VIE2010)
3. Việc công bố và thực hành của cộng đồng đức tin có đại diện cho Thiên
Chúa của Chúa Giêsu Kitô như một thực tại sống động trong bối cảnh hiện tại
không? Chúng ta chỉ có một phúc âm duy nhất của Thiên Chúa Ba Ngôi,
nhưng những nghiên cứu học hỏi thông điệp và chia sẽ Đức tin, có nhiệm
vụ tái diễn giải ngôn ngữ đức tin này cho thời đại và địa điểm của chúng ta,
nó liên quan đến rủi ro khi đại diện cho đức tin của mình trong các khái niệm
mới và trong các hành động mới. Nó đòi hỏi phải suy nghĩ thấu đáo và sống đức
tin liên quan đến những trải nghiệm mới, những vấn đề mới và những khả năng mới.
Bản thân Kinh thánh là một mô hình của quá trình thể hiện năng động đức tin của
cộng đồng trong thời đại và hoàn cảnh mới. Không được tránh khỏi câu hỏi của
Bonhoeffer: Chúa Giêsu Kitô là ai đối với chúng ta ngày nay?
4.Việc cộng đồng đức tin công bố phúc âm của Chúa Giêsu Kitô có dẫn đến
việc thực hành biến đổi trong đời sống cá nhân và xã hội không? Đức
tin Cơ đốc không chỉ tìm kiếm sự hiểu biết về mặt khái niệm mà còn yêu cầu sự
thực hành đức tin trong cuộc sống hằng ngày.
Học hỏi Lời Kinh thánh cần đặt câu hỏi về cách phúc âm có thể cải cách
và biến đổi cuộc sống, những khuôn mẫu nào cần phải thay đổi, và các cấu trúc xấu
cần phải được thách thức. Mối liên hệ giữa lòng tin vào ân phúc và lời kêu gọi
phục vụ Chúa là không thể tách rời. Học hỏi Lời Ngài và đạo đức kết hợp để
nhắc nhở chúng ta sống đức tin qua hành động cụ thể. Quá trình tìm hiểu thần học
phải liên tục, tự do, và can đảm, đồng thời luôn có sự cầu nguyện đi kèm.
CÁC BƯỚC THIẾT LẬP TRONG QUÁ TRÌNH HỌC HỎI LỜI THƯỢNG ĐẾ THEO
ERICKSON[18]:
(1) Sưu tầm nguồn tài liệu từ Kinh thánh (2) Thống nhất Tài liệu Kinh Thánh [Những điểm chung & cả khác nhau, hoặc có thể là những giả định] (3) Phân tích những lời dạy (4) Khảo sát những nghiên cứu về Lịch sử [về đặc tính hoặc khuôn mẫu của thông điệp kéo dài (ngắn) trong các giai đoạn lịch s] (5) Tham khảo các quan điểm Văn hóa khác [Về thông điệp, dưới một hình thức khác ở bối cảnh hay là sự thay đổi hoàn toàn nội dung] (6) Điểm then chốt của Thông điệp [Phân biệt Sự thật không thay đổi và Hình thức, như ‘các của lễ’ là hình thức và ‘sự cứu chuộc’ là lẽ thật khi nói đến các luật lệ trong Cựu Ứơc] (7) Sự trợ giúp các nguồn tài liệu ngoài Kinh thánh [với các ngành Khoa học, kỹ thuật, tâm lý…] (8) Cách diễn đạt theo ngôn ngữ hiện tại [về hình thức trình bày thông điệp không phải là một nội dung khác] (9) Cẩn trọng trong sự phát triển chủ đề giải thích trọng tâm và sắp xếp chúng [trọng tâm không đồng nghĩa là giảm nhẹ hay phớt lờ vì sẽ dễ trở nên méo mó (10)
[1]
Joel B. Green and Lee Martin McDonald, eds., The
World of the New Testament: Cultural, Social, and Historical Contexts
(Grand Rapids, Michigan: Baker Academic, 2013), 1.
[2]
Greg Gilbert, Tại Sao Tin Cậy Kinh Thánh?
(Why Trust the Bible?), trans. Quang Vo (Hà Nội: NXB Tôn Giáo, 2015),
10–11.
[3]
Joel B. Green and Lee Martin McDonald, The
World of the New Testament, 3.
[4]
Viện Thần Học Tin Lành Việt Nam, Tìm hiểu
Tân Ước (California: Union University of California, 2006), 10.
[5]
Daniel L. Migliore, Faith Seeking
Understanding: An Introduction to Christian Theology, Third edition. (Grand
Rapids: William B. Eerdmans Publishing Company, 2014), 76–79.
[6]
Lewis D Mathis, “Charismatic and Expository
Preaching: A Case Study of Two Preaching Methods Within the Local Church”
(Doctor of Ministry in Biblical Studies, Liberty University, 2021), 48.
[7]
Peter Kreeft, You Can Understand the
Bible: A Practical Guide to Each Book in the Bible, New, combined and rev.
ed. (San Francisco: Ignatius Press, 2005).
[8]
Eryl W. Davies, Biblical Criticism: A
Guide for the Perplexed, Guides for the perplexed (London ; New York:
Bloomsbury, 2013).
[9]
“Liberation Theology,” Online Encyclopedia, Britannica,
accessed October 27, 2024,
https://www.britannica.com/topic/liberation-theology.
[10]
Juli Whaley, “Christian Reflections on the
Parable of the Good Samaritan,” Moore Liberation Theology, last modified
December 19, 2023, accessed February 17, 2025,
https://mooreliberationtheology.com/parable-of-the-good-samaritan/.
[11]
Henry Chadwick, “Origen (Christian
Theologian),” Online Encyclopedia, Britannica, accessed February 17,
2025, https://www.britannica.com/biography/Origen.
[12]
Origen, Homilies on Luke: Fragments on
Luke, trans. Joseph T. Lienhard, The Fathers of the church v. 94
(Washington, D.C: Catholic University of America Press, 1996), 138.
[13]
Eryl W. Davies, Biblical Criticism.
[14]
Eryl W. Davies, Biblical Criticism.
[15]
Thuan Si Nguyen, “Using Geert Hofstede’s
Cultural Dimensions to Describe and to Analyze Cultural Differences Between
First Generation and Second Generation Vietnamese in the Vietnamese Church in
America” (Doctor of Ministry, Alliance Theological Seminary, 2014), 33.
[16]
Daniel L. Migliore, Faith Seeking
Understanding, 33.
[17]
Daniel L. Migliore, Faith Seeking
Understanding, 34.
[18] Millard J. Erickson, Thần Học Cơ Đốc Giáo [Christian Theology], trans. Union College of California, vol. 1, 2 vols. (Hà Nội: NXB Văn Hóa Thông Tin, 2005).
THƯ MỤC
Daniel L. Migliore. Faith Seeking Understanding: An Introduction to Christian Theology. Third edition. Grand Rapids: William B. Eerdmans Publishing Company, 2014.
Eryl W. Davies. Biblical Criticism: A Guide for the Perplexed. Guides for the perplexed. London ; New York: Bloomsbury, 2013.
Greg Gilbert. Tại Sao Tin Cậy Kinh Thánh? (Why Trust the Bible?). Translated by Quang Vo. Hà Nội: NXB Tôn Giáo, 2015.
Henry Chadwick. “Origen (Christian Theologian).” Online Encyclopedia. Britannica. Accessed February 17, 2025. https://www.britannica.com/biography/Origen.
Joel B. Green and Lee Martin McDonald, eds. The World of the New Testament: Cultural, Social, and Historical Contexts. Grand Rapids, Michigan: Baker Academic, 2013.
Juli Whaley. “Christian Reflections on the Parable of the Good Samaritan.” Moore Liberation Theology. Last modified December 19, 2023. Accessed February 17, 2025. https://mooreliberationtheology.com/parable-of-the-good-samaritan/.
Lewis D Mathis. “Charismatic and Expository Preaching: A Case Study of Two Preaching Methods Within the Local Church.” Doctor of Ministry in Biblical Studies, Liberty University, 2021.
Millard J. Erickson. Thần Học Cơ Đốc Giáo [Christian Theology]. Translated by Union College of California. Vol. 1. 2 vols. Hà Nội: NXB Văn Hóa Thông Tin, 2005.
Origen. Homilies on Luke: Fragments on Luke. Translated by Joseph T. Lienhard. The Fathers of the church v. 94. Washington, D.C: Catholic University of America Press, 1996.
Peter Kreeft. You Can Understand the Bible: A Practical Guide to Each Book in the Bible. New, Combined and rev. Ed. San Francisco: Ignatius Press, 2005.
Thuan Si Nguyen. “Using Geert Hofstede’s Cultural Dimensions to Describe and to Analyze Cultural Differences Between First Generation and Second Generation Vietnamese in the Vietnamese Church in America.” Doctor of Ministry, Alliance Theological Seminary, 2014.
Viện Thần Học Tin Lành Việt Nam. Tìm hiểu Tân Ước. California: Union University of California, 2006.
“Liberation Theology.” Online Encyclopedia. Britannica. Accessed October 27, 2024. https://www.britannica.com/topic/liberation-theology.

Comments
1: Vui mừng
Người ta sẽ ghét các con, cắt đứt liên lạc với các con, phỉ nhổ các con và xem các con là đồ gian ác, vì các con theo Con Người . Nhưng khi họ làm như thế, các con sẽ vui mừng. Lúc ấy hãy hớn hở lên, vì có một phần thưởng rất lớn đang dành cho các con trên thiên đàng. Tổ tiên của họ cũng đối xử với các nhà tiên tri như vậy.
Lu-ca 6:22-23 BPT
https://bible.com/bible/205/luk.6.22-23.BPT
2: Yêu thương gia đình và hông nhượng bộ
Sau đó Chúa Giê-xu về nhà nhưng dân chúng lại tụ tập đông đảo đến nỗi Ngài và các môn đệ không ăn được. Nghe thế nên thân nhân Ngài xuống để bắt Ngài về, vì họ cho rằng Ngài đã bị cuồng trí.
Mác 3:20-21 BPT
https://bible.com/bible/205/mrk.3.20-21.BPT
3: Yêu kẻ ghét mình
Nhưng ta bảo các ngươi là người đang nghe, hãy yêu kẻ thù mình. Hãy đối tốt với kẻ ghét mình, chúc lành cho kẻ nguyền rủa mình và cầu nguyện cho kẻ độc ác với mình.
Lu-ca 6:27-28 BPT
https://bible.com/bible/205/luk.6.27-28.BPT
4: I Phia rơ 3: 13-17
5: I Phia rơ 4: 12-19
6: CVCSĐ 4: 1-31
7: CVCSĐ 5: 17-42
8: CVCSĐ 8: 1-3
9: II Cổ rinh 11: 23-29
10: II Cổ rinh 6: 3-10
Cựu Ước
- Giô-suê 1:8
- Phục Truyền Luật Lệ Ký 6:6-9, 11:18-21
- Thi Thiên 1:2, 119:9, 11, 15, 18, 27, 99, 105, 130
- Châm Ngôn 2:1-5
- Ê-sai 34:16
Tân Ước
- Ma-thi-ơ 4:4
- Ma-thi-ơ 7:24
- Giăng 5:39
- Công Vụ Các Sứ Đồ 17:11
- 1 Ti-mô-thê 4:13
- 2 Ti-mô-thê 2:15
- Gia-cơ 1:22-25
- 1 Phi-e-rơ 2:2
- Cô-lô-se 3:16
---
CHỦ ĐỂ: TK nói như thế nào về NGƯỜI NỮ LÃNH ĐẠO HỘI THÁNH
I. Cựu Ước
1. **Miriam (Mi-ri-am)** – Chị của Môi-se và A-rôn, là nữ tiên tri
- **Xuất Ê-díp-tô Ký 15:20** – "Mi-ri-am, nữ tiên tri, chị của A-rôn, cầm trống cơm trong tay mình, và hết thảy người nữ đi theo nàng, vừa đánh trống cơm, vừa múa."
2. **Đê-bô-ra (Deborah)** – Nữ thẩm phán và tiên tri, lãnh đạo dân Israel
- **Các Quan Xét 4:4-5** – "Lúc đó Đê-bô-ra, một nữ tiên tri, vợ của Láp-đi-đốt, làm quan xét Israel. Nàng ngồi dưới cây chà là của Đê-bô-ra, giữa Ra-ma và Bê-tên trong núi Ép-ra-im; dân Israel đi đến cùng nàng đặng cầu xin sự đoán xét."
- **Các Quan Xét 5:7** – "Cho đến khi ta, Đê-bô-ra, dấy lên, như một người mẹ trong Israel."
3. **Hulda (Hun-đa)** – Nữ tiên tri, người hướng dẫn dân sự trong thời Vua Giô-si-a
- **II Các Vua 22:14-20** – Hun-đa truyền sứ điệp từ Chúa cho vua và các thầy tế lễ.
- **II Sử Ký 34:22-28** – Nhắc lại sự kiện Hun-đa khuyên vua Giô-si-a.
---
### **II. Tân Ước**
Trong Tân Ước, có nhiều người nữ tham gia giảng dạy, truyền giáo và hướng dẫn hội thánh:
1. **Phoebe (Phê-bê)** – Nữ chấp sự (deaconess) của hội thánh
- **Rô-ma 16:1-2** – "Tôi xin giới thiệu cùng anh em về Phê-bê, người chị em chúng ta, là chấp sự của Hội Thánh tại Xen-rê; hãy tiếp rước người trong Chúa cách xứng đáng với các thánh đồ..."
2. **Priscilla (Bê-rít-sin)** – Cùng với chồng là A-qui-la, dạy dỗ Apollos
- **Công Vụ 18:26** – "A-bô-lô khởi sự giảng dạy cách dạn dĩ trong nhà hội. Nhưng khi Bê-rít-sin và A-qui-la nghe người giảng, bèn đem người về nhà mà giải bày đạo Ðức Chúa Trời càng kỹ càng hơn."
3. **Junia (Giunia)** – Được Phao-lô khen là "nổi bật giữa các sứ đồ"
- **Rô-ma 16:7** – "Hãy chào Anh-rô-ni-cơ và Giunia, bà con ta, là những người từng bị tù chung với ta, là kẻ nổi bật giữa các sứ đồ..."
4. **Lydia (Lu-đi-a)** – Một người nữ thành công, mở nhà cho hội thánh nhóm họp
- **Công Vụ 16:14-15** – "Có một người nữ tên là Lu-đi-a... bà kính sợ Đức Chúa Trời, lắng tai nghe; Chúa mở lòng cho bà chú ý đến điều Phao-lô nói..."
5. **Những người nữ phục vụ Chúa Giê-xu**
- **Lu-ca 8:1-3** – "Có vài người nữ đã được chữa lành khỏi quỷ dữ và bệnh tật, như Ma-ri Ma-đơ-len, Gio-a-na, Su-sa-na, và nhiều người khác. Những người ấy lấy của cải mình giúp cho Ngài."
6. **Evodia và Syntyche (Ê-vô-đia và Xin-tu-kê)** – Hai người nữ đã "cùng chiến đấu vì Tin Lành"
- **Phi-líp 4:2-3** – "Ta khuyên Ê-vô-đia và khuyên Xin-tu-kê hãy đồng lòng trong Chúa. Ta cũng xin ngươi, người bạn thật của ta, hãy giúp hai người nữ ấy, vì họ đã cùng ta chiến đấu trong Tin Lành."
Cựu Ước:
• Sáng Thế Ký 1:29 – “Ta ban cho các con mọi thứ thảo mộc kết hạt trên khắp mặt đất, cùng mọi thứ cây có trái với hạt giống trong đó. Đó sẽ là lương thực cho các con.”
• Sáng Thế Ký 9:3 – “Mọi loài vật bò trên đất sẽ dùng làm thực phẩm cho các con cũng như cây, rau xanh mà Ta đã ban cho các con.”
• Xuất Ai Cập 15:26: “Ngài phán rằng: Nếu ngươi chăm chỉ nghe lời Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi, làm sự ngay thẳng trước mặt Ngài, lắng tai nghe các điều răn và giữ mọi luật lệ Ngài, thì ta chẳng giáng cho ngươi một trong các bệnh nào mà ta đã giáng cho xứ Ê-díp-tô; vì ta là Đức Giê-hô-va, Đấng chữa bệnh cho ngươi.”
• Châm Ngôn 3:7-8: “Đừng khôn ngoan theo mắt mình; hãy kính sợ Đức Giê-hô-va và lìa khỏi điều ác. Như vậy, rốn con sẽ được lành mạnh và xương con được cứng cáp.”
• Châm Ngôn 4:20-22: “Hỡi con ta, hãy chú tâm đến lời ta dạy, lắng tai nghe những lời thuyết giảng của ta. Các lời ấy chớ để xa tầm mắt con, hãy giữ lấy nơi lòng con mãi mãi. Vì những lời ấy là sự sống cho ai tìm được nó, là sức khỏe cho toàn thân của họ.”
• Giê-rê-mi 33:6: “Tuy nhiên, Ta sẽ phục hồi sức lực và chữa lành cho thành. Ta sẽ chữa lành cho dân chúng, sẽ tỏ cho chúng thấy cảnh thịnh vượng và yên ổn lâu dài.”
• Thi Thiên 103:2-3: “Hỡi linh hồn ta, hãy ca ngợi Đức Giê-hô-va, chớ quên mọi ơn phước của Ngài. Ấy là Ngài tha thứ mọi tội ác ngươi, chữa lành mọi bệnh tật ngươi.”
Tân Ước:
• Ma-thi-ơ 9:12: “Đức Chúa Jêsus nghe vậy, thì phán rằng: Người khỏe mạnh không cần thầy thuốc, song là người có bệnh.”
• I Cô-rinh-tô 6:19-20: “Anh em không biết rằng thân thể anh em là đền thờ của Đức Thánh Linh đang ngự trong anh em…
• I Cô-rinh-tô 10:31: “Vậy, anh em hoặc ăn, hoặc uống, hoặc làm bất cứ việc gì, hãy làm tất cả vì vinh quang của Đức Chúa Trời.”
• I Ti-mô-thê 4:8: “Vì sự luyện tập thân thể chỉ ích lợi đôi phần, còn sự tin kính ích lợi mọi mặt, vì có lời hứa cho đời này và cả đời sau
Ăn uống:
• Sáng Thế Ký 9:3: “Mọi loài vật bò trên đất sẽ dùng làm thực phẩm cho các con cũng như cây, rau xanh mà Ta đã ban cho các con.”
• Ma-thi-ơ 15:11: “Không phải vật vào miệng làm ô uế người ta; nhưng vật từ miệng ra, đó mới làm ô uế người ta.”
• I Ti-mô-thê 4:4-5: “Vì mọi vật Đức Chúa Trời dựng nên đều tốt lành, không có vật gì đáng bỏ, miễn là mình nhận lấy với lòng tạ ơn..
• Châm Ngôn 23:20-21: “Chớ ở chung với kẻ hay uống rượu hoặc ăn uống quá độ, vì kẻ
• Châm Ngôn 25:16 – “Nếu con tìm được mật ong, chỉ nên ăn vừa đủ, kẻo ăn nhiều quá rồi mửa ra.”
• Châm Ngôn 20:1 – “Rượu là vật nhạo báng, thức uống mạnh làm cho náo loạn; ai bị chúng chế ngự sẽ không khôn ngoan.”
• Ê-sai 5:22 – “Khốn thay cho những kẻ anh hùng trong việc uống rượu, dũng sĩ trong việc pha chế thức uống có cồn.”
• Ê-phê-sô 5:18 – “Đừng say rượu vì rượu xui cho luông tuồng, nhưng phải đầy dẫy Đức Thánh Linh.”
• Đa-ni-ên 1:12 – “Xin hãy thử các đầy tớ ngài trong mười ngày, cho chúng tôi chỉ ăn rau và uống nước thôi.”
• Đa-ni-ên 1:15 – “Sau mười ngày, họ thấy vẻ mặt tươi tỉnh hơn và khỏe mạnh hơn những thanh niên ăn thức ăn của vua.”
• Ma-thi-ơ 4:4 – “Người ta sống chẳng phải chỉ nhờ bánh mà thôi, nhưng nhờ mọi lời nói ra từ miệng Đức Chúa Trời.”
• La ma 14:17 – “Vì vương quốc của Đức Chúa Trời chẳng phải tại sự ăn uống, nhưng tại sự công bình, bình an, và vui vẻ trong Đức Thánh Linh.”
• 1 Cô-rinh-tô 8:8 – “Thực phẩm không đưa chúng ta đến gần Đức Chúa Trời; nếu chúng ta không ăn, cũng chẳng kém gì, mà nếu chúng ta ăn, cũng chẳng hơn gì.”
Nghỉ ngơi:
• Xuất Ai Cập 20:8-10: “Hãy nhớ ngày nghỉ đặng làm nên ngày thánh. Ngươi hãy làm hết công việc mình trong sáu ngày; nhưng ngày thứ bảy là ngày nghỉ của Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi.”
• Mác 6:31: “Ngài phán cùng các sứ đồ rằng: Hãy lại đây, chúng ta hãy đi riêng ra nơi vắng vẻ, nghỉ ngơi một chút.”
Chữa bệnh:
• Xuất Ai Cập 15:26: “Ngài phán rằng: Nếu ngươi chăm chỉ nghe lời Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi… thì ta chẳng giáng cho ngươi một trong các bệnh nào mà ta đã giáng cho xứ Ê-díp-tô; vì ta là Đức Giê-hô-va, Đấng chữa bệnh cho ngươi.”
• Thi Thiên 103:2-3: “Hỡi linh hồn ta, hãy ca ngợi Đức Giê-hô-va… Ấy là Ngài tha thứ mọi tội ác ngươi, chữa lành mọi bệnh tật ngươi.”
• Gia-cơ 5:14-15: “Trong anh em có ai đau ốm chăng? Hãy mời các trưởng lão của Hội Thánh đến; họ sẽ nhân danh Chúa mà cầu nguyện cho người bệnh… Lời cầu nguyện bởi đức tin sẽ cứu chữa người bệnh.”
Những đoạn Thánh Kinh nói về "Sự cầu nguyện"
I. CỰU ƯỚC
1. II Lịch sử 7:14-15
[14] Nhưng nếu dân ta là dân được gọi bằng danh ta ăn năn việc làm của họ, nếu họ khẩn nguyện và vâng lời ta, ngưng các hành vi gian ác của họ thì ta sẽ từ trời nghe họ. Ta sẽ tha tội cho họ và chữa lành cho xứ. [15] Mắt ta sẽ nhìn, tai ta sẽ mở để nghe lời cầu nguyện nơi nầy.
2. Giê-rê-mi 33:3
[3] “Hỡi Giu-đa hãy cầu nguyện cùng ta, ta sẽ trả lời cho các ngươi. Ta sẽ cho ngươi biết những điều bí ẩn mà ngươi chưa hề nghe.
3. Thi thiên 145:18-19
[18] CHÚA ở gần những kẻ cầu xin Ngài, tức những ai thật lòng tìm kiếm Ngài. [19] Ngài ban cho những kẻ tôn kính Ngài điều họ ao ước. Ngài nghe tiếng họ khi họ kêu cứu và giải cứu họ.
4. Thi thiên 5:1-3
[1] CHÚA ôi, xin hãy nghe tiếng tôi khẩn cầu. Xin hiểu nỗi buồn thảm của tôi. [2] Xin nghe tiếng kêu cứu của tôi, lạy Vua là Thượng Đế tôi vì tôi khẩn nguyện cùng Ngài. [3] Lạy CHÚA, mỗi sáng Ngài nghe tiếng tôi. Mỗi sáng tôi dâng lên lời khẩn xin cùng Ngài và chờ đợi Ngài trả lời.
5. Thi thiên 34:15-17
[15] CHÚA nhìn thấy người ngay thẳng, Ngài nghe lời cầu nguyện của họ. [16] Nhưng Ngài nghịch lại kẻ làm điều ác; Ngài khiến thế gian không nhớ đến chúng nữa. [17] Người ngay lành kêu xin cùng CHÚA, Ngài liền nghe và giải cứu họ khỏi cảnh khổ.
6. Châm ngôn 15:29
[29] CHÚA tránh xa kẻ ác, nhưng Ngài nghe lời khẩn nguyện của người ngay thẳng
7. I Sa-mu-ên 1:26-27
[26] Nàng bảo Hê-li, “Thưa ông, tôi là người đàn bà lúc trước đứng gần ông mà cầu nguyện. [27] Nó là đứa con mà tôi cầu khẩn, CHÚA nghe lời khẩn nguyện của tôi, ban nó cho tôi.
8. I Các Vua 8:44-45
[44] Khi CHÚA sai dân Ngài đi trên đường ra chiến đấu cùng kẻ thù mình, họ sẽ cầu nguyện cùng Ngài, hướng về thành nầy mà Ngài đã chọn và đền thờ mà tôi đã xây cho Ngài. [45] Thì xin Ngài từ trời hãy nghe lời cầu nguyện của họ và xử công bằng cho họ.
9. Đa-niên 6:10
[10] Sau khi Đa-niên biết rằng luật mới đã ký, ông vẫn lên lầu nhà mình cầu nguyện, các cửa sổ lầu mở về hướng Giê-ru-sa-lem. Mỗi ngày ba lần Đa-niên quì gối xuống cầu nguyện và cảm tạ Thượng Đế như vẫn làm từ trước.
II. TÂN ƯỚC
10. Ma-thi-ơ 6:7-8
[7] Còn khi cầu nguyện, đừng làm như kẻ không biết Thượng Đế. Họ lải nhải những điều vô nghĩa, tưởng rằng Thượng Đế sẽ nghe họ vì nói nhiều. [8] Đừng làm như họ, vì Cha các con biết các con cần gì trước khi các con xin Ngài rồi.
11. Ma-thi-ơ 7:7
[7] Hãy xin, Thượng Đế sẽ cho các con. Hãy tìm, các con sẽ gặp. Hãy gõ, cửa sẽ mở ra cho các con.
12. Ma-thi-ơ 21:22
[22] Nếu các con tin thì cầu xin điều gì cũng được cả.
13.Ma-thi-ơ 6:9-13
[9] Khi cầu nguyện, hãy nói như sau: ‘Lạy Cha trên thiên đàng, nguyền xin danh Cha luôn được tôn thánh. [10] Nguyền nước Cha mau đến và những ý muốn Cha đều thành tựu ở dưới đất nầy cũng như trên thiên đàng. [11] Xin cho chúng con đủ thức ăn hôm nay. [12] Xin tha tội chúng con, như chúng con đã tha cho những kẻ phạm tội cùng chúng con. [13] Xin đừng đưa chúng con vào sự cám dỗ, mà cứu chúng con khỏi Kẻ Ác.’
14. Mác 11:24-25
[24] Nên ta bảo các con, hãy tin rằng mình đã nhận được điều mình khẩn xin trong khi cầu nguyện, thì sẽ nhận được điều ấy. [25] Khi đang đứng cầu nguyện, nếu các con có điều gì nghịch với người nào thì hãy tha thứ họ, để Cha các con trên trời cũng tha tội cho các con.
15. Lu-ca 18:10-12
[10] “Có một người Pha-ri-xi và một người thu thuế cùng lên đền thờ cầu nguyện. [11] Người Pha-ri-xi đứng riêng một mình và cầu nguyện như sau, ‘Lạy Thượng Đế, con tạ ơn Ngài vì con không giống như những người khác: ăn cắp, lường gạt, ngoại tình hoặc như anh thu thuế nầy. [12] Con cữ ăn mỗi tuần hai lần, và dâng một phần mười về mọi nguồn lợi tức của con!’
16. Giăng 14:13-14
[13] Nếu các con nhân danh ta cầu xin điều gì thì ta sẽ làm cho, để Cha được hiển vinh qua Con. [14] Nếu các con nhân danh ta cầu xin điều gì thì ta sẽ làm cho.
17.Công Vụ các Sứ đồ 2:42
[42] Họ dùng thì giờ học hỏi lời dạy của các sứ đồ, san sẻ của cải, bẻ bánh và cầu nguyện chung với nhau.
18. Công Vụ các Sứ đồ 12:5
[5] Phia-rơ bị giam trong ngục nhưng hội thánh vẫn hết lòng cầu nguyện Chúa cho ông.
19. La-mã 12:12
[12] Hãy vui lên vì anh em đầy hi vọng. Lúc gặp khó khăn, hãy nhẫn nhục, phải luôn luôn khẩn nguyện.
20. I Tê-sa-lô-ni-ca 5:16-18
[16] Hãy vui mừng luôn luôn, [17] thường xuyên khẩn nguyện. [18] Dù trong hoàn cảnh nào cũng hãy dâng lời tạ ơn. Đó là ý muốn của Thượng Đế đối với anh chị em trong Chúa Cứu Thế Giê-xu.
21. Phi-líp 4:6
[6] Đừng lo âu gì hết nhưng trong mọi hoàn cảnh hãy dùng lời khẩn nguyện và tạ ơn mà trình những nhu cầu mình cho Thượng Đế
22. Gia-cơ 5:16-18
[16] Hãy xưng tội cùng nhau và cầu nguyện cho nhau để Thượng Đế chữa lành anh chị em. Khi một tín hữu cầu nguyện, những việc lớn có thể xảy ra. [17] Ê-li cũng là người như chúng ta thôi. Ông cầu nguyện xin đừng mưa, thì trời không mưa trên khắp nước suốt ba năm rưỡi. [18] Rồi Ê-li cầu xin thì mưa xuống, đất lại sinh sản hoa màu.
23. Lu-ca 18:1
[1] Rồi Chúa Giê-xu dùng chuyện sau đây để dạy các môn đệ Ngài phải khẩn nguyện luôn luôn, đừng nản lòng.
24. I Cô-rinh 14:15
[15] Thế thì tôi phải làm sao? Tôi phải cầu nguyện bằng tâm linh nhưng cũng bằng trí óc nữa. Tôi sẽ hát bằng tâm linh nhưng cũng hát bằng trí óc nữa.
25. Ê-phê-sô 6:18
[18] Hãy thường xuyên dâng đủ thứ lời cầu nguyện trong Thánh Linh, nài xin những điều anh chị em cần. Hãy luôn luôn sẵn sàng, đừng bỏ cuộc, và cầu nguyện cho các con dân thánh của Chúa
26. I Ti-mô-thê 2:1-2
[1] Trước hết ta dặn con phải cầu nguyện cho mọi người, khẩn xin Thượng Đế ban cho họ những gì họ cần, đồng thời tạ ơn Ngài. [2] Hãy cầu nguyện cho các quan quyền để chúng ta có được cuộc sống an lành mà thờ kính Thượng Đế.
---X77---
Cựu ước :
- Giê rê mi 31:3
Và từ xa CHÚA hiện ra cùng dân Ngài và nói,
“Ta yêu các ngươi bằng tình yêu còn đời đời.
Vì thế ta đã luôn tỏ lòng nhân từ cùng các ngươi.
- Thi thiên 136:1-3
1Hãy cảm tạ Thượng Đế vì Ngài nhân từ.
Tình yêu Ngài vững bền đời đời,
2 Hãy cảm tạ Thượng Đế của các thần.
Tình yêu Ngài vững bền đời đời.
3 Hãy cảm tạ Chúa các Chúa.
Tình yêu Ngài vững bền đời đời
- Phục truyền luật lệ 7:9
Vậy hãy biết rằng CHÚA, Thượng Đế các ngươi là Thượng Đế thành tín. Ngài sẽ giữ giao ước yêu thương của Ngài đến ngàn đời cho những ai yêu Ngài và vâng giữ các mệnh lệnh Ngài
- Ê sai 54:10
Dù núi dời, dù đổi chuyển, nhưng tình yêu ta đối với ngươi sẽ không bao giờ dứt; lời hứa hòa bình của ta sẽ không bao giờ hết," CHÚA là Đấng tỏ lòng từ bi cùng ngươi phán vậy.
- Thi Thiên 136:1-5
Hãy cảm tạ Thượng Đế vì Ngài nhân từ.
Tình yêu Ngài vững bền đời đời,
Hãy cảm tạ Thượng Đế của các thần.
Tình yêu Ngài vững bền đời đời.
Hãy cảm tạ Chúa các Chúa.
Tình yêu Ngài vững bên đời đời.
Chỉ một mình Ngài làm được các phép lạ
Tình yêu Ngài còn đời đời.
Nhờ sự khôn ngoan,
Ngài tạo nên bầu trời.
Tình yêu Ngài vững bền đời đời
- Sáng thế 9:16
Khi cái mống xuất hiện trong mây, ta nhìn thấy và sẽ nhớ lại giao ước muôn đời giữa ta và các sinh vật trên địa cầu.”
- Thi thiên 103:8-13
Chúa đầy lòng thương xót và nhân từ.
Ngài chậm giận, giàu tình yêu.
Không phải lúc nào Ngài cũng luôn luôn bắt tội chúng ta,
Ngài không căm giận mãi.
10 Chúa không trừng phạt chúng tôi xứng với tội lỗi chúng tôi;
không báo trả chúng tôi đáng với sự gian ác chúng tôi,
11 Hễ các từng trời cao hơn đất bao
nhiêu, thì tình yêu Ngài dành cho kẻ kính sợ Ngài cũng lớn bấy nhiêu.
12 Phương đông xa phương tây bao nhiêu, thì Ngài cũng mang tội lỗi xa khỏi chúng tôi bấy nhiêu.
13 Chúa tỏ lòng nhân từ đối cùng những ai kính sợ Ngài, như cha tỏ lòng nhân từ cùng con cái mình.
1-Giăng 3:16
16Vì Thượng Đế quá yêu nhân loại đến nỗi hi sinh Con Một của Ngài, để ai đặt niềm tin vào Con ấy sẽ không bị chết mất nhưng được sống đời đời.
2- la mã 5:8
Nhưng Thượng Đế đã tỏ tình yêu lớn lao của Ngài như sau: Trong khi chúng ta đang là tội nhân thì Chúa Cứu Thế chịu chết vì chúng ta
3- 1 Giăng 4:9-10
Thượng Đế đã tỏ tình yêu thương của Ngài cho chúng ta như sau: Ngài sai Con Một của Ngài đến thế gian để chúng ta được sống nhờ Con ấy.
10 Tình yêu thật là thế nầy: Không phải vì chúng ta đã yêu Thượng Đế nhưng vì Thượng Đế đã yêu chúng ta nên sai Con Ngài chịu chết chuộc tội cho chúng ta
4-la mã 8:37-39
37Nhưng trong mọi hoàn cảnh ấy chúng ta toàn thắng nhờ Thượng Đế là Đấng đã bày tỏ tình yêu của Ngài cho chúng ta, 38 Tôi tin chắc rằng dù sự chết, sự sống, thiên sứ, thần linh, việc hiện tại, việc tương lai, quyền lực, 39 những gì bên trên chúng ta, bên dưới chúng ta, hoặc bất cứ biến cố nào trên thế giới, không điều gì có thể phân cách chúng ta khỏi tình yêu mà Thượng Đế đã bày tỏ ra trong Giê-xu, Đấng Cứu Thế, Chúa chúng ta.
5- la mã 5:5
Hi vọng ấy sẽ không làm chúng ta thất vọng vì Thượng Đế đã trút đầy tình yêu của Ngài vào lòng chúng ta qua Thánh Linh mà Ngài đã cho chúng ta
6-Giăng 15:13
13Không có tình yêu nào lớn hơn khi một người hi sinh tính mạng vì bạn mình
7- Giăng 17:23
Con ở trong họ và Cha ở trong Con, để họ hoàn toàn hiệp nhất. Rồi thế gian sẽ biết rằng Cha đã sai Con đến và rằng Cha yêu họ cũng như Cha đã yêu Con.
Giăng 14:23
Chúa Giê-xu đáp, “Ai yêu mến ta thì vâng theo lời dạy của ta. Cha ta sẽ yêu mến người ấy. Cha ta và ta sẽ đến sống cùng người đó.
8-1 giăng 3:16
Do đó chúng ta biết được tình yêu chân thật là gì: Chúa Giê-xu đã hi sinh mạng sống Ngài vì chúng ta. Cho nên chúng ta cũng phải hi sinh mạng sống cho anh chị em mình.
9-ê phê sô 2:4-5
Nhưng lòng nhân ái của Thượng Đế thật lớn lao và Ngài quá yêu thương chúng ta. Dù trước kia chúng ta chết về mặt tâm linh do những hành động phản nghịch Thượng Đế, nhưng Ngài đã ban cho chúng ta sự sống mới cùng với Chúa Cứu Thế. Anh chị em đã được cứu do ân phúc của Thượng Đế
10- 2 cô rinh 5:14-15
Tình yêu Chúa Cứu Thế ngự trị trong chúng tôi nên chúng tôi tin Đấng đã chết vì mọi người để tất cả chúng ta đồng chết. 15 Chúa Cứu Thế chết vì mọi người để những người sống không còn vì mình mà sống nữa. Ngài chết thay cho họ và sống lại từ kẻ chết để từ nay trở đi, họ sẽ sống cho Ngài.
---X77----
Những đoạn Thánh Kinh nói về sự Khôn Ngoan
1. Sự Khôn Ngoan Đến Từ Thượng Đế
Châm Ngôn 2:6 (BPT)
"CHÚA ban sự khôn ngoan; kiến thức và thông sáng do Ngài mà đến."
Gia-cơ 1:5 (BPT)
Trong anh chị em có ai thiếu khôn ngoan, hãy cầu xin Thượng Đế. Ngài là Đấng rộng rãi, sẵn sàng ban cho mọi người, nên chắc hẳn Ngài sẽ cho anh chị em sự khôn ngoan.
Gia-cơ 3:17 (BPT)
17Nhưng sự khôn ngoan đến từ Thượng Đế thì trước hết là tinh sạch, rồi tới hòa thuận, dịu dàng và chân thật. Loại khôn ngoan nầy lúc nào cũng sẵn sàng giúp đỡ những người gặp khó khăn và làm ích cho kẻ khác. Lúc nào cũng phải chăng và lương thiện.
2. Khôn Ngoan vs. Ngu Dại
Châm Ngôn 9:10 (BPT)
"Kính sợ CHÚA là khởi đầu của sự khôn ngoan, nhận biết Đấng Thánh là có trí thông sáng."
Châm Ngôn 3:7 (BPT)
"Chớ tưởng mình khôn ngoan, hãy kính sợ CHÚA và lánh xa điều ác."
Châm Ngôn 14:8 (BPT)
"Người khôn ngoan suy nghĩ cẩn thận về đường lối mình, nhưng kẻ ngu dại chỉ biết lừa dối chính mình."
Truyền Đạo 10:2 (BPT)
"Người khôn ngoan chọn con đường đúng, nhưng kẻ dại chọn đường sai."
3. Tìm Kiếm Sự Khôn Ngoan
Châm Ngôn 4:7 (BPT)
"Sự khôn ngoan là điều quan trọng nhất, nên phải tìm kiếm nó. Dù phải trả giá bằng mọi vật sở hữu, cũng hãy theo đuổi sự hiểu biết."
Châm Ngôn 8:11 (BPT)
"Vì sự khôn ngoan quý hơn hồng ngọc; không một báu vật nào so sánh được với nó."
Ma-thi-ơ 7:24 (BPT)
"Ai nghe lời ta và làm theo thì giống như người khôn ngoan xây nhà trên đá."
4. Thượng Đế Ban Khôn Ngoan Cho Người Khiêm Nhường
Châm Ngôn 11:2 (BPT)
"Khi kiêu ngạo đến thì sỉ nhục cũng đến; nhưng sự khôn ngoan ở với người khiêm nhường."
Châm Ngôn 12:15 (BPT)
"Kẻ ngu dại tưởng đường lối mình là đúng, nhưng người khôn ngoan chịu nghe lời khuyên."
Châm Ngôn 13:20 (BPT)
"Ai giao du với người khôn ngoan thì trở nên khôn ngoan, nhưng kẻ làm bạn với người ngu dại sẽ chuốc lấy tai họa."
5. Sự Khôn Ngoan Trong Lời Nói
Châm Ngôn 17:28 (BPT)
"Ngay cả kẻ ngu dại khi im lặng cũng được xem là khôn ngoan; ai ngậm miệng lại được xem là có trí hiểu."
Châm Ngôn 15:1 (BPT)
"Lời đáp êm dịu làm nguôi cơn giận, nhưng lời cay nghiệt khiến giận thêm."
Châm Ngôn 18:21 (BPT)
"Sống chết do lời nói quyết định; ai thích nói năng hấp tấp sẽ chuốc họa vào thân."
6. Chúa Giê-xu Là Sự Khôn Ngoan Tối Cao
Cô-lô-se 2:3 (BPT)
"Tất cả các kho tàng khôn ngoan và hiểu biết đều giấu trong Chúa Cứu Thế."
1 Cô-rinh-tô 1:25 (BPT)
25Sự ngu dại của Thượng Đế vượt xa sự khôn ngoan của loài người, còn sự yếu đuối của Thượng Đế cũng mạnh hơn năng lực con người.
1 Cô-rinh-tô 3:18-19 (BPT)
18Chớ nên tự gạt. Nếu anh chị em cho rằng mình khôn ngoan theo đời nầy thì nên hóa ra khờ dại để thực sự khôn ngoan, 19vì cái khôn đời nầy là điều khờ dại trước mặt Thượng Đế. Như Thánh Kinh viết, “Ngài bắt kẻ khôn trong chính mưu mô của họ.”Gióp 5:13
Người nữ dịu dàng trong Thượng Đế:
Cựu Ước:
* Châm ngôn 11:16 Người đàn bà duyên dáng được kính nể, còn đàn ông hung dữ chỉ được của cải.
* Châm ngôn 12:18 Lời nói xấu đâm buốt như gươm, nhưng lời khôn ngoan khiến vết thương lành.
* Châm ngôn 14:1 Đàn bà khôn ngoan gây dựng gia đình, còn đàn bà ngu dại làm tan hoang cửa nhà.
* Châm ngôn 16:24 Lời nói khôn khéo dịu ngọt cho lưỡi, và là sức khoẻ cho thân thể.
* Châm ngôn 17:22 Lòng vui mừng là phương thuốc hay, còn tinh thần chán nản làm suy yếu sức khoẻ.
* Châm ngôn 18:22 Ai kiếm được vợ tức tìm được hạnh phúc, và nhận được phúc lành từ CHÚA.
* Châm ngôn 19:14 Con cái thừa hưởng gia sản từ cha mẹ, nhưng người vợ khôn ngoan do CHÚA ban cho.
* Châm ngôn 21:9 Thà sống một góc trên mái nhà hơn sống trong nhà chung với người vợ hay gây gổ.
* Châm ngôn 21:19 Thà ở một mình trong sa mạc, hơn ở chung với người vợ hay gây gổ, phàn nàn.
* Châm ngôn 22:11 Ai ham thích tư tưởng trong sạch và lời nói thanh nhã sẽ được làm bạn với vua.
* Châm ngôn 31:10-12 Người vợ đảm đang rất khó kiếm, vì nàng quí giá hơn châu ngọc. Chồng nàng tin cậy nàng hoàn toàn. Chồng nàng không thiếu lợi lộc. Suốt đời nàng làm ích lợi chứ không làm hại cho chồng.
* Châm ngôn 31:25-26 Nàng có uy tín và được dân chúng kính nể. Nàng nhìn về tương lai mà lòng hớn hở. Nàng nói ra lời khôn ngoan và trung tín dạy kẻ khác.
* Châm ngôn 31:30 Duyên là giả dối, sắc chỉ tạm bợ, nhưng người đàn bà nào kính sợ CHÚA sẽ được ca tụng.
Tân Ước:
* I Phia-rơ 3:4 Vẻ đẹp của chị em là do bề trong—một cái đẹp thùy mị, dịu dàng và tâm thần bình thản không bao giờ tiêu mất mới quí báu trước mặt Thượng Đế.
* Ê-phê-sô 4:32 Hãy đối với nhau trong nhân từ và yêu thương, tha thứ nhau như Thượng Đế đã tha thứ anh chị em trong Chúa Cứu Thế.
* Cô-lô-se 3:12 Thượng Đế đã chọn anh chị em làm dân Thánh của Ngài. Ngài yêu thương anh chị em cho nên hãy tỏ lòng nhân ái đối với người khác, luôn luôn tử tế, khiêm nhường, hòa nhã và kiên nhẫn.
* Ga-la-ti 5:22 Nhưng Thánh Linh sinh ra những bông trái như yêu thương, vui mừng, bình an, kiên nhẫn, ôn hòa, đức độ, trung tín
* I Ti-mô-thê 2:9 Ngoài ra, đàn bà cũng phải ăn mặc chỉnh tề để chứng tỏ tinh thần tự trọng và tiết chế, không dùng tóc kết, vàng bạc, ngọc ngà hoặc y phục đắt tiền.
* I Ti-mô-thê 2:10 Trái lại, phải làm việc phước đức là điều phù hợp với những đàn bà nào cho rằng mình thờ phụng Thượng Đế.
* Tít 2: 3-4 Cũng thế, hãy dạy các phụ nữ lớn tuổi phải có tác phong thánh khiết, đừng nói xấu người khác, đừng nghiện rượu, phải biết dạy điều lành. Sau đó họ mới có thể dạy các thiếu nữ trẻ tuổi yêu chồng con.
Phần 1: Cựu Ước – Những lời tiên tri về sự ra đời của Đấng Cứu Thế
1. Đấng Cứu Thế sẽ đến từ dòng dõi người phụ nữ (hậu duệ của A-đam và Ê-va)
• Sáng Thế Ký 3:15 – “Ta sẽ làm cho mày và người nữ, dòng dõi mày và dòng dõi người nữ thù nghịch nhau. Dòng dõi đó sẽ đạp dập đầu mày, còn mày sẽ cắn gót chân người.”
→ Đây là lời tiên tri đầu tiên về Đấng Cứu Thế, hàm ý về sự ra đời của Chúa Giê-xu, Đấng sẽ chiến thắng Sa-tan.
2. Đấng Cứu Thế đến từ dòng dõi Áp-ra-ham, Y-sác và Gia-cốp
• Sáng Thế Ký 12:3 – “Bởi ngươi, mọi chi tộc trên đất sẽ được phước.”
• Sáng Thế Ký 17:19 – “Sa-ra vợ ngươi sẽ sanh cho ngươi một con trai… Ta sẽ lập giao ước đời đời với nó.”
• Dân Số Ký 24:17 – “Một ngôi sao sẽ xuất hiện từ Gia-cốp, một vương trượng từ Y-sơ-ra-ên sẽ trỗi dậy.”
3. Đấng Cứu Thế đến từ chi phái Giu-đa và dòng dõi vua Đa-vít
• Sáng Thế Ký 49:10 – “Vương trượng sẽ không rời khỏi Giu-đa… cho đến khi Đấng mà nó thuộc về sẽ đến.”
• 2 Sa-mu-ên 7:12-16 – Đức Chúa Trời hứa với Đa-vít rằng dòng dõi ông sẽ có một Vua đời đời.
4. Đấng Cứu Thế sẽ được sinh bởi một trinh nữ
• Ê-sai 7:14 – “Nầy, một gái đồng trinh sẽ chịu thai, sanh một con trai, và đặt tên là Em-ma-nu-ên.”
5. Đấng Cứu Thế sẽ sinh ra tại Bết-lê-hem
• Mi-chê 5:2 – “Hỡi Bết-lê-hem Ép-ra-ta… từ nơi ngươi sẽ ra một Đấng cai trị trong Y-sơ-ra-ên.”
6. Các sự kiện liên quan đến sự ra đời của Đấng Cứu Thế
• Ô-sê 11:1 – “Ta đã gọi Con Ta ra khỏi Ai Cập.”
→ Tiên tri về việc Chúa Giê-xu sẽ tạm lánh sang Ai Cập.
• Giê-rê-mi 31:15 – “Ra-chên khóc than về con cái mình, vì chúng nó không còn nữa.”
→ Tiên tri về cuộc thảm sát trẻ em do vua Hê-rốt ra lệnh.
Phần 2: Tân Ước – Các đoạn Kinh Thánh về sự ra đời của Chúa Giê-xu
1. Gia phả của Chúa Giê-xu
• Ma-thi-ơ 1:1-17 – Gia phả Chúa Giê-xu theo dòng dõi của Đa-vít, từ Áp-ra-ham đến Giô-sép.
• Lu-ca 3:23-38 – Gia phả Chúa Giê-xu truy ngược từ Giô-sép đến A-đam.
2. Thiên sứ báo tin về sự giáng sinh của Chúa Giê-xu
• Lu-ca 1:26-38 – Thiên sứ Gáp-ri-ên báo tin cho Ma-ri rằng cô sẽ mang thai Chúa Giê-xu.
3. Ma-ri đi thăm Ê-li-sa-bét
• Lu-ca 1:39-45 – Ma-ri thăm Ê-li-sa-bét, Giăng Báp-tít nhảy mừng trong bụng mẹ.
• Lu-ca 1:46-56 – Bài ca ngợi của Ma-ri (Magnificat).
4. Thiên sứ báo tin cho Giô-sép
• Ma-thi-ơ 1:18-25 – Giô-sép được thiên sứ báo tin trong giấc mơ, chấp nhận Ma-ri làm vợ.
5. Sự giáng sinh của Chúa Giê-xu
• Lu-ca 2:1-7 – Chúa Giê-xu được sinh ra tại Bết-lê-hem, đặt nằm trong máng cỏ.
6. Các mục đồng đến thờ lạy
• Lu-ca 2:8-20 – Thiên sứ báo tin cho các mục đồng, họ đến Bết-lê-hem thờ lạy Chúa Giê-xu.
7. Chúa Giê-xu được đặt tên và dâng trong đền thờ
• Lu-ca 2:21 – Chúa Giê-xu được đặt tên theo lệnh thiên sứ.
• Lu-ca 2:22-40 – Si-mê-ôn và nữ tiên tri An-ne nhận ra Chúa Giê-xu trong đền thờ.
8. Các nhà thông thái đến thờ lạy Chúa Giê-xu
• Ma-thi-ơ 2:1-12 – Ba nhà thông thái từ phương Đông đến thờ lạy, dâng vàng, nhũ hương, mộc dược.
9. Hê-rốt ra lệnh giết các con trẻ
• Ma-thi-ơ 2:13-18 – Gia đình Chúa Giê-xu trốn sang Ai Cập để tránh sự truy sát của Hê-rốt.
• Ma-thi-ơ 2:19-23 – Sau khi Hê-rốt chết, họ trở về Na-xa-rét.
10. Ý nghĩa thần học về sự giáng sinh của Chúa Giê-xu
• Giăng 1:1-14 – “Ngôi Lời đã trở nên xác thịt và ở giữa chúng ta.”
• Ga-la-ti 4:4-5 – “Khi kỳ hạn đã trọn, Đức Chúa Trời bèn sai Con Ngài xuống …
Cựu ước:
Phục Truyền Luật Lệ 11:18-19: “ Hãy hết lòng ghi nhớ những lời ta dạy, hãy viết chúng xuống và buộc vào tay như một dấu hiệu; mang vào trán để nhắc nhở các ngươi luôn. Hãy dạy con cái ngươi, nói với chúng khi ngươi đang ngồi trong nhà hay đi trên đường, khi người nằm hay lúc thức dậy”
Châm Ngôn 29:15: “ sửa trị và trừng phạt giúp trẻ con khôn ngoan, nhưng trẻ con bị thả lỏng sẽ mang sỉ nhục cho mẹ mình”
Ê-sai 49:15: “ Chúa đáp, “ đàn bà có thể nào quên cho con bú không?, có thể nào nàng không có chút tình cảm gì đối với đứa trẻ mình sinh ra hay sao?, dù đàn bà quên con mình ta cũng sẽ chẳng quên ngươi”
Thi Thiên 127:3: “Con cái là món quà Chúa ban, trẻ thơ là món quà của lòng mẹ”
2 Các Vua 2:23-24: “ Câu chuyện 42 cậu bé trêu chọc Ê tiên-> dạy trẻ con tôn kính người lớn”
Ê-sai 54:13: “ Tất cả con cái ngươi sẽ được Chúa dạy dỗ, chúng sẽ hưởng hòa bình”
Châm Ngôn 4:1-4: “ Các con ơi hãy nghe lời dạy dỗ của cha; hãy chú ý để hiểu biết, lời ta nói ra đều tốt lành, cho nên chớ quên đđiềuta dạy con. khi ta còn là con trong nhà cha ta, ta như đứa con duy nhất của mẹ ta, cha ta thường dạy ta như sau: Hãy hết lòng nghe lời dạy của cha, vâng theo lời chỉ dạy của cha thì con sẽ sống”.
Tân ước:
Luca 2: 40: “ Cậu bé dần dần khôn lớn và mạnh mẽ, ân phúc của TĐ ở cùng cậu”
Ma-thi-ơ 21:15-16 “Các giới trưởng tế và các giáo sư luật thấy Chúa Giê-xu làm những việc kỳ diệu và trẻ con ca ngợi ngài trong đền thờ, “ Hoan hô con vua Đa vit thì họ tức giận”, Họ hỏi ngài thầy có nghe gì không?, Có vậy các ông chưa đọc trong kinh thánh có viết” Ngài dạy các trẻ con và hài nhi ca ngợi Ngài hay sao?”
Ma-thi-ơ 18:2 “ Ta bảo thật các con phải thay đổi và trở nên giống như trẻ thơ, nếu không các con sẽ không vào nước trời được đâu”
Mác 10:13-16” Có một số người mang trẻ thơ đến cùng chúa Giê-Xu để ngài đặt tay lên chúng nó, nhưng các môn đệ ngăn cấm. Chúa giê-xu thấy vậy không bằng lòng nên bảo họ” hãy để các trẻ thơ đến cùng ta, vì nước trời thuộc về những ai có tấm lòng như chúng nó. Ta bảo thật
Ê-phê-sô 6:4 “ Bậc làm cha đừng chọc tức con cái nhưng hãy nuôi dạy chúng nó theo sự rèn luyện và giáo huấn của Chúa”
Cô-lô-se 3: 20-21 “ Còn cái hãy vâng lời cha mẹ trong mọi việc vì điều ấy vừa lòng Chúa. Bậc làm cha không nên cau có với con cái mình vì nếu ae quá khó tính, chúng nó sẽ bỏ cuộc”
Cựu Ước
Gióp 1:1
"Có một người tên Gióp sống trong xứ U-xơ. Ông thanh liêm và ngay thật; kính sợ Thượng Đế và tránh xa điều ác."
Thi Thiên 34:9
"Hỡi những người thuộc về CHÚA hãy kính sợ Ngài! Những ai kính sợ CHÚA không hề thiếu thốn gì hết."
Thi Thiên 128:1
"Phúc cho người nào kính sợ Thượng Đế và vâng lời Ngài."
Châm Ngôn 1:7
"Kính sợ CHÚA là khởi đầu của tri thức; kẻ ngu dại khinh bỉ sự khôn ngoan và lời khuyên dạy."
Ê-sai 29:13
"Chúa phán: 'Dân nầy chỉ đến gần ta bằng miệng, tôn kính ta bằng môi, nhưng lòng chúng nó cách xa ta; sự kính sợ ta đối với chúng chỉ là điều răn của loài người, do họ dạy cho.'"
Tân Ước
Lu-ca 1:50
"Thượng Đế sẽ tỏ lòng nhân từ của Ngài cho những người thờ kính và phục vụ Ngài đến mãi mãi."
Công Vụ Các Sứ Đồ 9:31
"Hội thánh khắp xứ Giu-đê, Ga-li-lê và Sa-ma-ri được bình an, được gây dựng và sống trong sự kính sợ Chúa; nhờ Thánh Linh giúp đỡ, số người tin Chúa càng ngày càng thêm."
II Cô-rinh-tô 7:1
"Vậy, thưa anh chị em yêu dấu, vì chúng ta có những lời hứa nầy, chúng ta hãy thanh tẩy mình khỏi mọi vết nhơ của thể xác và tinh thần, hoàn thiện sự thánh khiết trong sự kính sợ Thượng Đế."
Phi-líp 2:12
"Vậy, thưa anh chị em yêu dấu, như anh chị em luôn luôn vâng lời, không chỉ khi tôi có mặt, mà bây giờ càng hơn khi tôi vắng mặt, hãy lấy lòng sợ sệt run rẩy mà hoàn thành sự cứu rỗi của mình."
Hê-bơ-rơ 12:28
"Vì vậy, bởi chúng ta nhận được một vương quốc không thể rúng động, chúng ta hãy có lòng biết ơn, qua đó chúng ta có thể thờ phượng Thượng Đế một cách đẹp lòng Ngài, với sự kính sợ và tôn kính."
Bước 1: Tìm tất cả đoạn thánh kinh nói về khôn ngoan
Cựu ước
I Các Vua 3:11
Ngài đáp: "Vì con đã không xin sống lâu, giàu sang hoặc sinh mạng của kẻ thù, nhưng xin sự khôn ngoan để ý thức công lý,
2.I Các Vua 4:29
Thượng Đế cho Sa-lô-môn sự khôn ngoan, hiểu biết sâu xa, uyên bác.
3.I Các Vua 5:12
Vậy Chúa cho Sa-lô-môn sự khôn ngoan như Ngài đã hứa. Hi-ram và Sa-lô-môn cùng ký hòa ước hữu nghị.
4.I Các Vua 10:4
Khi thấy sự khôn ngoan của Sa-lô-môn cùng thấy cung điện vua xây,
5.I Các Vua 10:6
Bà nói với vua: "Tất cả những điều tôi nghe khi còn ở nước nhà về sự khôn ngoan và công việc vua làm đều đúng cả,
6.I Các Vua 10:7
nhưng tôi không tin cho đến khi tôi tới đây và thấy tận mắt. Đúng ra, tôi chỉ mới nghe có phân nửa. Sự khôn ngoan và giàu có của vua còn hơn xa những điều tôi nghe.
7.II Sử ký 9:3
Thấy rõ sự khôn ngoan của Sa-lô-môn, cung điện nguy nga,
8.E-xơ-ra 7:25
Còn ngươi, E-xơ-ra, theo sự khôn ngoan Thượng Đế ban cho ngươi, hãy chỉ định thẩm phán và các viên chức, là những người hiểu biết luật Thượng Đế, để họ cai trị, xét xử nhân dân ở phía Tây sông Cái; nếu có ai không thông thạo luật Thượng Đế, ngươi sẽ dạy cho họ.
9.Gióp 28:27
Chúa biết đâu là sự khôn ngoan, Và công bố cho mọi người sẵn lòng lắng nghe. Chúa xem xét nó kỹ càng và đặt nó trên căn bản vững vàng.
10.Gióp 32:13
Xin quý vị đừng vội khoe khoang: Ta đã tìm được sự khôn ngoan Chính Thượng Đế sẽ hạ bệ Gióp. Còn con người đành chịu bó tay!'
11.Gióp 38:36
Ai đặt sự khôn ngoan trong tâm hồn Và cho tâm trí được quán thông?
12.Truyền đạo 7:24
Sự khôn ngoan ở nơi xa thẳm, ngoài tầm tay với của tôi.
13.Truyền đạo 7:25
Tôi tìm kiếm khắp nơi, quyết chí tìm cho được sự khôn ngoan và nguyên lý muôn vật để chứng tỏ sự xấu xa của kẻ dại và sự dại dột là điên cuồng.
14.Truyền đạo 8:1
Không gì hơn khôn ngoan. Người khôn giải thích được sự vật nhờ hiểu biết. Sự khôn ngoan làm cho mặt mày sáng sủa, đổi nét cứng cỏi ra dịu dàng.
15.Truyền đạo 9:16
Tôi nghiệm rằng dù sự khôn ngoan thắng hơn sức mạnh, nhưng sự khôn ngoan của người nghèo lại bị coi rẻ, và lời của người nghèo không được ai quý chuộng.
16.Truyền đạo 9:18
Sự khôn ngoan thắng hơn khí giới, nhưng 'một con sâu làm rầu nồi canh'.
17.Giê-rê-mi 51:15
Thượng Đế sáng tạo địa cầu bởi quyền năng và sự khôn ngoan. Chúa giảng các tầng trời bởi tri thức vô hạn.
18.Đa-ni-ên 2:21
Chúa thay đổi thời kỳ, mùa tiết! Chúa phế lập các vua và lãnh tụ các nước. Chúa ban sự khôn ngoan cho người tìm kiếm Chúa và tỏ tri thức cho người có trí hiểu.
1.Mác 6:2
Ngày thứ bảy, Chúa đến hội trường giảng dạy. Mọi người đều ngạc nhiên về sự khôn ngoan và các phép lạ của Chúa, vì Ngài cũng là người Na-xa-rét như họ.
2.I Cổ-linh 1:20
Nhà triết học ở đâu? Nhà văn hào ở đâu? Nhà hùng biện, thuyết khách lừng danh một thời ở đâu? Thượng Đế đã chẳng khiến sự khôn ngoan của thế gian trở thành khờ dại sao?
3.I Cổ-linh 1:30
Nhờ Thượng Đế, anh em được sống trong Chúa Cứu Thế Giê-xu, là hiện thân sự khôn ngoan của Thượng Đế, là Nguồn công chính, thánh thiện và cứu chuộc của chúng ta,
4.Ê-phê-sô 3:10
Ngày nay các bậc cầm quyền trên trời nhận biết được sự khôn ngoan vô hạn của Thượng Đế, khi họ nhìn thấy Hội thánh Ngài gồm đủ tất cả các dân tộc.
https://fine-boater-a12.notion.site/B-i-t-p-Tu-n-2-o-n-Kinh-Th-nh-c-s-kh-c-nhau-trong-2-s-ch-Ph-c-m-v-gi-i-th-ch-s-kh-c-nhau-1a8d231af41480a09e20c68151deefd3
https://docs.google.com/spreadsheets/d/1XccP_bZQzlYfxJ7lxxUph7woCRk8aE-H/edit?gid=1736547185#gid=1736547185
https://quyetthang.notion.site/1-M-i-quan-h-h-n-nh-n-1aa3dc993dab80aa804cee046d05d22b?pvs=4