Các cuộc truy tầm Chúa Jêsus trong lịch sử & Các sách Phúc Ân cộng quan
#Mục đích
“Thời Khai Minh, người ta không chấp nhận việc xem Kinh thánh là lời Chúa, và từ đó tìm đến con người Chúa Jêsus, và ‘Người ta cho rằng Chúa Giêsu trong Kinh Thánh là sản phẩm của niềm tin, tưởng tượng, thần thoại, hay huyền thoại. Thế nên các học giả đã nỗ lực truy tìm Chúa Giê-su của lịch sử.” [1]
#Diễn tiến
1. Cuộc Truy Tầm Giê-su Lịch Sử Thứ Nhất
Những vấn đề của Lịch sử và tính chất của nó rất ảnh hưởng đến cách mà một người nghiên cứu sách Phúc Âm, cuộc truy tầm lần thứ nhất diễn ra vào cuối thế kỷ XVIII đến đầu thế kỷ XX, và bắt đầu từ chủ nghĩa duy lý, sau bài luận văn của H.S.Reimarus (1694-1768) xuất bản năm 1778. Sau đó là Strauss (1808-74) với quan điểm rằng, “cách tiếp cận các sách Phúc Âm cũng không giải thích cho nội dung về căn bản là huyền thoại và tưởng tượng của các sách Phúc Âm. Ông chấp nhận tính chất lịch sử phác thảo cuộc đời của Chúa Giê-su như các sách Phúc Âm đã trình bày, rồi tranh luận rằng cái khung sườn lịch sử đó đã được lắp thịt vào bởi trí tưởng tượng sáng tạo của Hội Thánh đầu tiên.” [2], và với tác phẩm của mình, “nhấn mạnh hai đặc điểm chính của Cuộc Truy Tầm, đó là (1) lòng tin không thể bác bỏ được nơi lý luận và hệ quả là (2) một cam kết tách rời tôn giáo (hay thần học) khỏi lịch sử.” [3]
Năm 1906, Albert Schweitzer, người kể lại sự nghiên cứu về Chúa Jêsus đã tổng kết lại phần này như sau: “Trong những cuộc khảo sát về Cuộc Truy Tầm Thứ Nhất về con người Giê-su lịch sử, thì cuộc truy tầm này trở nên phổ biến như một tấm gương phản ánh cam kết cá nhân của mỗi người, như các học giả đã phản ánh mối quan tâm của họ về nhân vật Giê-su lịch sử.” [4]
2. Cuộc Truy Tầm Mới
Một quan điểm ảnh hưởng thời kỳ này đến từ Rudolf Bultmann, khiến việc nghiên cứu về đề tài này đã tách khỏi xu hướng chủ đạo của nghiên cứu Tân Ước. Một số người gọi đây là thời kỳ Không Truy Tầm (No Quest) [5]. Ông cho rằng việc tìm hiểu về cuộc Chúa, ngoài sự thật rằng Ngài đã từng sống, thì các điều khác trở nên bất khả thi và không cần thiết. Đức tin đến từ cuộc gặp gỡ với Chúa chứ không phải là dữ liệu lịch sử [6].
Đầu thế kỷ XX, Ernst Troeltsch với 3 nguyên tắc của nguyên cứu lịch sử làm nền tảng cho cuộc truy tầm mới này, nguyên tắc nghi vấn, tương tự (loại suy) và tương ứng để làm rõ mọi câu nói hay hành động của Chúa được ghi lại trong Phúc Âm. Cố gắng lột bỏ cái áo của những giải thích Thần học để tìm đến cốt lõi của lịch sử trong những biến cố cuộc đời Chúa. Và kết quả là họ không thể vẽ nên được một hình ảnh về Chúa Jêsus trọn vẹn, vì những gì chính Ngài đã dạy, đã làm là ‘trái ngược với đương thời’, với niềm tin của Hội thánh và tất cả đều mang giá trị lịch sử trong đó. [7].
3.Cuộc Truy Thứ Ba
Diễn ra từ cuối thập niên 1970 đến nay, và khác với các cuộc truy tầm trước đó về ý niệm lịch sử, “sự ghi nhận những biến cố lịch sử và việc viết các ký thuật lịch sử đang ngày càng được xem như một cơ chế giải nghĩa, thậm chí thần học” [8], Chúa được nghiên cứu trong bối cảnh niềm tin và cuộc sống của người Do Thái, các ảnh hưởng của Ngài với cộng đồng, những lời dạy gắn với bối cảnh kinh tế, xã hội, tôn giáo của thời đó. Và kết quả cũng không có nhiều sự đồng thuận với nhau giữa các học giả.
#Kết quả chung: “Các cuộc truy tầm
không đưa đến kết quả, nhưng có ích lợi: Chúng giúp chúng ta thấy cần phải quan
tâm đến nhiều khía cạnh trong việc nghiên cứu Phúc Âm.” [9]
Những điểm khác biệt trong ba sách Phúc Âm cộng quan.
Chân lý có thể đứng vững trên hai chân của mình, Chúa Jêsus nói: “Các ngươi sẽ biết Chân lý, và Chân lý sẽ giải phóng các ngươi” (Giăng 8:32, VIE2010) [10] Sự khác biệt về văn phong, ngôn từ sử dụng, điểm nhấn mạnh của tác giả, hoàn cảnh ‘lịch sử’ của bối cảnh mà tác giả đang nói đến… những sự khác biệt này không làm giảm nhẹ đi “những dị biệt’ hay ‘khác thường” trong Đức tin dành cho Đức Chúa Trời. Những điều chúng ta chưa hiểu, không có nghĩa là điều đó không đúng.
Lời Đức Chúa Trời không sai trật, và Ngài không nói dối (He-bơ-rơ 6:18, Tít 1:2), Ngài cũng “không thể tự chối bỏ mình được” ( 2 Ti-mô-thê 2:13, VIE2010). Những quan điểm và thế giới quan của người đọc dễ đưa đến những ‘kết luận’ trên đúc kết đó, và phát biểu cho những gì mình nhìn thấy. Và thế giới quan của Tác giả Phúc Âm cũng được sự dẫn dắt của Thánh Linh để giới thiệu ‘một Chúa Jêsus khác biệt, vì Ngài 100% là người và cũng 100% là Thiêng liêng.
|
|
Ma-thi-ơ |
Mác |
Lu-ca |
|
Gia Phổ Chúa Jêsus |
Dòng dõi Ngài qua Sa-lô-môn (1:6) |
|
Dòng dõi Ngài qua Na-than (3:31) |
|
Ma-thi-ơ mô tả gia phổ theo Giô-sép (cha nuôi của Chúa) để mô tả về dòng
dõi hoàng tộc |
|
Lu-ca mô tả gia phổ theo Ma-ri, đi xa hơn tới A-đam. Nhấn mạnh đến Ma-ri
người ‘ruột thịt’ với Chúa trên đất, câu 23, ám chỉ rằng ‘Chúa không phải là
con ruột của Giô-sép) |
|
|
Các thứ tự của các cám dỗ của Chúa Jêsus |
Hóa đá thành bánh – Nhảy từ nóc Đền thờ- Các vương quốc trên thế gian
(4:5-10) |
|
Hóa đá thành bánh – Các vương quốc trên thế gian – Nhảy từ nóc Đền thờ
(4:5-12) |
|
Ma-thi-ơ mô tả theo trình tự chuỗi sự kiện liên tục mang tính lịch sử |
|
Lu-ca mô tả câu chuyện mang tính cao trào, kịch tính. |
|
|
Bài giảng trên núi của Chúa bắt đầu bởi: |
“Phước cho người nghèo khó tâm linh” (5:3) |
|
“Phước cho các con là những người nghèo khó” (6:20) |
|
Một số khác biệt khác được sưu tầm: Điểm nhấn hay cái nhìn của tác giả về các phân đoạn khác nhau vẫn đang tiếp
tục được trình bày, trao đổi và học hỏi để “Biết Chúa” của mình nhiều hơn.
Các hiểu nhầm phổ biến về giải nghĩa, hay diễn giải ý Chúa: [11] ·
Những điều Không được giải thích thì cho rằng
Không thể lý giải ·
Thánh Kinh “có sạn” cho đến khi được làm sáng
tỏ [Hoàn toàn Chân lý/ Vô ngộ] ·
Chúng ta có thể “Giải nghĩa có sai sót” không
có nghĩa là Đức Chúa Trời có sai sót. ·
Hiểu sai bối cảnh Kinh thánh ·
Không giải nghĩa phân đoạn khó dưới ánh sáng của
một phân đoạn khác rõ hơn. ·
Giảng dạy dựa trên những phân đoạn ‘tối
nghĩa’. ·
Thánh Kinh mang đầy đủ, rõ ràng về tính cách,
phẩm chất của con người được Thánh Linh dẫn dắt, có văn phong, ngôn từ… riêng
biệt trong bối cảnh của họ. ·
Cho rằng một nhóm thông điệp khác nhau [từ ng]
thì có nghĩa là thông điệp sai lầm ·
Cho rằng việc trích dẫn của Tân Uớc từ Cượu Ước
luôn phải chính xác về mặt ngôn từ. ·
Cho rằng “Khác nhau” nghĩa là “Sai lầm” ·
Phân biệt những ghi chép của Thánh Kinh có cả
những ‘lời của Ma quỷ” [Sự phạm tội của những người được ghi chép lại] thì
không có nghĩa giải nghĩa lời Ma quỷ [hay cuộc sống tội lỗi của các nhân vật]
là Chân lý [đặc biệt khi nó nằm ngoài văn cảnh] ·
Quên rằng lời Thánh Kinh là lời ghi chép của
ngôn ngữ ‘thông thường’ của bối cảnh văn hóa xưa, không phải là một văn bản
có ‘Kỹ thuật’ / học thuật. ·
Cho rằng, chỉ có từ gốc ghi chép lại là luôn
luôn đúng (vì những bản sao khác cũng có khả năng không chính xác) ·
Cho rằng một số những ‘tuyên bố chung’ thì có
thể áp dụng hoàn toàn đúng trong mọi hoàn cảnh. ·
Nhầm lẫn về những “giới hạn thời gian tác dụng”
cũng những lời tuyên bố trước áp dụng cho những hoàn cảnh sau đó. Như vậy, các điểm khác biệt là rõ ràng, và hiển
nhiên bởi các điểm Khác nhau không phải bởi điểm ‘Sai lầm’ của tác giả ghi
chép, quan sát và nhấn mạnh đến với người đọc. Trong phạm vi của bài viết
không thể giải thích hết toàn bộ, chỉ liệt kê để mình có thể nhìn thấy và từng
ngày trưởng thành, ‘hiểu biết’ Chúa nhiều hơn. |
|||
|
Chữa bệnh cho người đầy tớ của viên đội trưởng |
Chính viên đội trưởng đến gặp Chúa (8:5-13) |
|
Những trưởng lão Do thái được sai đến gặp Chúa (7:2-10) |
|
|
Trong thực tế không có mâu thuẫn giữa hai mô tả. Vì người đại diện cũng như
chính người đó đều có ‘hình ảnh’ tương đương nhau. |
||
|
Chúa chữa bệnh cho người bị quỷ ám từ khu mồ mã [nghĩa địa] |
Chúa chữa cho hai người (8:28-34) |
Mô tả chỉ cho một người (5:1-20) |
Mô tả chỉ cho một người (8:26-39) |
|
Chúa Jesus sai phải mười hai môn đồ |
…không mang theo gậy (10:10) |
Ngoài cây gậy, đừng mang theo gì hết (6:8) |
|
|
Bài giảng ở quê nhà [Na-xa-rét] (Sự khác nhau về thứ tự sự kiện) |
Giai đoạn sau chức vụ (13:53-58) |
Giai đoạn sau chức vụ (6:1-6) |
Ngay từ đầu chức vụ (4:16-30) |
|
Ai đến xin Chúa Jesus cho ngồi bên phải và bên trái Ngài |
Mẹ của Gia-cơ và Giăng (20:20) |
Hai người đến trực tiếp (10:35) |
|
|
Chúa Jesus chữa lành cho người mù ở Giê-ri-cô |
Hai người (20:29-34) |
Một người tên là Ba-ti-mê (10:46-52) |
Một người mù (18:35-43) |
|
Sự trả lời của Chúa Jêsus với các câu hỏi của các thầy tế lễ tại cuộc xét
xử Ngài |
'Đức Chúa Jêsus đáp: “Chính ngươi đã nói thế. Nhưng Ta nói với các ngươi,
sau nầy các ngươi sẽ thấy Con Người ngồi bên phải Đấng Quyền năng và ngự trên
mây trời mà đến.” ' (26:64) |
'Đức Chúa Jêsus đáp: “Chính Ta. Rồi đây các ngươi sẽ thấy Con Người Ngồi
bên phải Đấng Quyền Năng, Và hiện đến giữa mây trời.” '(14:62) |
'Nhưng từ nay về sau, Con Người sẽ ngồi bên phải Đức Chúa Trời quyền
năng.” ' (22:67-70) |
|
Bảng trên trên cây thập tự |
“Đây là Jêsus, Vua dân Do Thái” (27:37) |
“Vua dân Do Thái” (15:26) |
“Người nầy là Vua dân Do Thái” (23:38) |
|
Viên đội trưởng [và quân lính canh giữ ] nói khi chứng kiến Chúa trên cây
thập tự. |
“Thật, đây là con Đức Chúa Trời” (27:54) |
“Thật người này là con Đức Chúa Trời” (15:39) |
“Thật người này là người công chính!” (23:47) |
[1] Viện Thần Học Tin Lành Việt Nam, Tìm
hiểu Tân Ước (Union University of California, 2006), 67.
[2] Viện Thần Học Tin Lành Việt Nam, Tìm
hiểu Tân Ước, 68.
[3] Viện Thần Học Tin Lành Việt Nam, Tìm
hiểu Tân Ước, 68–69.
[4] Viện Thần Học Tin Lành Việt Nam, Tìm
hiểu Tân Ước, 69.
[5] Viện Thần Học Tin Lành Việt Nam, Tìm
hiểu Tân Ước, 69.
[6] Viện Thần Học Tin Lành Việt Nam, Tìm
hiểu Tân Ước, 69.
[7] Viện Thần Học Tin Lành Việt Nam, Tìm
hiểu Tân Ước, 71.
[8] Viện Thần Học Tin Lành Việt Nam, Tìm
hiểu Tân Ước, 71.
[9] Viện Thần Học Tin Lành Việt Nam, Tìm
hiểu Tân Ước, 72.
[10] Norman Geisler and Thomas Howe, When
Critics Ask: A Popular Handbook on Bible Difficulties, n.d. (Lưu ý: Phần tiếng Việt là do
người viết nghiên cứu này)
[11] Geisler and Howe, When Critics Ask: A
Popular Handbook on Bible Difficulties, 11-21. (Lưu ý: Phần tiếng Việt là do
người viết nghiên cứu này)
(Hãy theo dõi trên akoḗ hoặc MEDIATING ON SCRIPTURE để được cập nhật các học hỏi, và chia sẽ rộng rãi nếu bạn thấy điều này là ích lợi)
Nếu ai có tai để nghe, hãy nghe!” (Mác 4:23, VIE2010)


Comments
Có quá nhiều Lời Tiên Tri trong Cựu Ước trong Mathi 2 được trích dẫn Maica 5: 1( Bê Liêm Xứ Giuđe không phải một làng nhỏ bé
Vì là Quê Quán của Nhà Lãnh Tụ
Ngài sẽ chăn giữ, lãnh đạo dân Ta)
Ose 11: 1
Gieremi 31: 15
Và có câu : Mọi Việc diễn tiến đúng như Lời Tiên Tri trong Thánh Kinh.
Kinh Thánh giải nghĩa Kinh Thánh.
Lời Tiên tri giúp Tôi nhận thức sự nghiêm túc và sự chu toàn lời Hứa của God cho món quà cứu rỗi của nhân loại.
Ngài làm những gì Ngài đã hứa.
Điều đó giúp Tôi thêm tự tin và can đảm để đi theo sự dẫn dắt của Ngài.
Ngài cho Tôi nhận thức rõ về sự uy quyền của Ngài xuyên qua thời gian, không gian, đời Vua, sự gian ác của thế lực đen tối cản trở kế hoạch của Ngài, những người Ngài chọn để thực hiện ý muốn Ngài; sự che chở của Ngài; sự khôn ngoan tuyệt đỉnh; tình yêu thương vô điều kiện và vĩ đại mà Ngài dành cho nhân loại....
Tôi suy ngẫm về " Sự Ra Đời của Chúa" là sự mở đầu là hy vọng cho khoảnh khắc tuyệt vọng của bất cứ ai khi họ khát khao được cứu; tìm được ánh sáng; được mục đích để sống cả về linh hỗn lẫn sống sạch sẽ về thể xác.
Sáng nay Tôi cảm thấy mình quá nhỏ bé với những gì God đã làm và Tôi thấy biết ơn cho sự Ra đời của Chúa_ đã mở ra cánh cổng mới cho cuộc đời đầy bóng tối của cá nhân Tôi.
Điều đó thúc đẩy Tôi thêm khiêm tốn để tìm kiếm và hiểu sâu hơn về God; thúc đẩy Tôi quý giá món quà cứu rỗi cá nhân và muốn hia sẽ về tình yêu của God cho nhiều người.
Amen.
Tuy nhiên một điều cần kiểm chứng Lời hứa của Chúa đang dành cho ai? Và ở trong bối cảnh nào? Liệu đó có dành cho mình không? Vì không phải mọi lời hứa trong câu chuyện của Chúa dành cho ai đó, thì không đồng nghĩa dành cho mình.
Vd: Jeremiah 29:11-13, đây là lời hứa không dành cho mình, nhưng mình dùng rất nhiều để truyền giảng.
Thân mến,