Quá trình tập kết Kinh điển [Canon] Tân Ước
Trong quá trình phát triển của Cơ Đốc giáo đi từ nguyên thủy là một khối thống nhất chặt chẽ. Tuy nhiên, theo thời gian, sự hiệp nhất này bị rạn nứt và bắt đầu phân mảnh, các học thuyết-nhóm tự xưng với những quan điểm rất khác cũng phát triển theo như Nghĩa Tử Thuyết (Adoptionism), Thuyết Marcion (Marcionism) , Trí Huệ Giáo (Gnosticism), Khổ Tu Thuyết (Montanism) đến “Chính Thống Giáo Tiên Phong” (ProtoOrthodox) tiên phong dạy rằng Đức Chúa Giê-su Christ vừa là thần, vừa là người; Ngài chỉ là một hữu thể, chứ không phải hai; và Ngài đã dạy các môn đồ Ngài lẽ thật. Họ tuyên bố rằng các sứ đồ đã viết lại những lời dạy dỗ của Đức Chúa Giê-su, và khi những lời đó được giải thích theo đúng nghĩa đen, thì các sách này sẽ bày tỏ lẽ thật cần thiết để được cứu rỗi.
Quan điểm này đã nỗ lực phản ứng lại những lời tuyên bố của các nhóm chống đối. Họ làm việc này bằng cách chấp nhận có chọn lọc thẩm quyền của các sách mà các nhóm chống đối sử dụng. Khi công nhận thẩm quyền Kinh Thánh cho những tài liệu mà các nhóm khác sử dụng, phong trào chính thống giáo tiên phong đã thu hút được nhiều người gia nhập và ủng hộ. Dần dà, Cơ Đốc nhân các thế hệ sau được thừa hưởng di sản kinh điển Kinh Thánh của họ.
Chính Chúa Giê-su đã xác nhận thẩm quyền của Cựu Ước khi trích dẫn trong suốt thời gian giảng dạy của mình, Nhiều người Do Thái cũng công nhận thẩm quyền của các sách Tiên Tri. Những tác phẩm này bao gồm các sách từ Giô-suê cho đến II Các Vua trong bản Kinh Thánh của chúng ta, cùng với các sách tiên tri quen thuộc khác, như là Ê-sai, Giê-rê-mi, Ê-xê-chi-ên và mười hai sách tiểu tiên tri.
Các môn đồ Chúa Giê-su kể những lời dạy của Ngài là có thẩm quyền. Gần cuối thế kỷ thứ nhất, các môn đồ gọi những lời dạy của Chúa Giê-su là “Kinh Thánh” (I Ti-mô-thê 3:16). Đến đầu thế kỷ thứ hai, một số Cơ Đốc nhân quy thẩm quyền cho những lời của Chúa Giê-su và các tác phẩm của các sứ đồ Ngài.
Lúc này thì, Marcion là người bám giữ những sách thánh của ông (gồm phần lớn sách Phúc Âm Lu-ca và mười thư tín Phao-lô đã bị rút ngắn), nói rằng đó mới chính là Kinh Thánh Cơ Đốc. Điều này khiến các Cơ Đốc nhân khác công bố một kinh điển rộng hơn, bao gồm cả các sách Phúc Âm khác (Ma-thi-ơ, Mác, và Giăng) cùng với các thư tín khác (các thư tín “mục vụ”—I và II Ti-mô-thê, Tít—và tám thư tín chung) cùng với sách Công Vụ và Khải Huyền.
Quyển Kinh Thánh Tân Ước ra đời trong bối cảnh xung đột giữa các nhóm Cơ Đốc, và nhóm chiếm ưu thế là nhóm chính thống tiên phong đã dẫn đến việc hình thành kinh điển Cơ Đốc như chúng ta có ngày nay.
Cũng không phải là tình cờ khi những sách Phúc Âm bị kể là dị giáo—ví dụ như Phúc Âm của Phi-e-rơ hay Phúc Âm của Phi-líp—đã không được đưa vào trong Thánh Kinh Tân Ước. Điều này không có ý nói rằng kinh điển Kinh Thánh đã được hoàn thành trọn vẹn vào cuối thế kỷ thứ hai. Hai mươi bảy sách trong Kinh Thánh Tân Ước phải rất lâu về sau mới được thông qua lần cuối cùng.
Trong suốt thế kỷ thứ hai, thứ ba và thứ tư, các Cơ Đốc nhân chính thống tiên phong vẫn tiếp tục tranh luận về việc có nên đưa một số sách khác vào kinh điển hay không. Những cuộc tranh luận này chủ yếu xoay quanh các vấn đề:
(1) các sách được đem ra bàn luận có phải là sách cổ hay không, tức là được viết trong hay sau thời kỳ các sứ đồ;
(2) các sách có phải do chính các sứ đồ viết ra hay không; và
(3) các sách có được chấp nhận rộng rãi trong các hội chúng chính thống tiên phong hay không, tức là các sách có chứa nội dung Cơ Đốc đúng đắn hay nói về những vấn đề khác với niềm tin chính thống.


Comments