THÁNH KINH & THỰC HÀNH NÓI 'TIẾNG LẠ'
Tôi đồng tình vơi nhà thần học Richard C. Oudersluys trong một bài
nghiên cứu của mình trên Ethics and Theology (1974), rằng Đức
Thánh Linh không xa lạ với đức tin và cuộc sống Cơ đốc, nhưng tôi đứng ngoài
kinh nghiệm và thực hành nói tiếng lạ. Vì vậy, tôi không có cơ sở kinh nghiệm để
đánh giá tính thực tế và tính hợp lệ của nhiều tuyên bố được đưa ra ngày nay về
những kinh nghiệm và thực hành tâm linh như vậy. Giống như rất nhiều phong trào
đổi mới khác trong lịch sử của nhà thờ, phong trào Ân tứ hiện tại mang đến cả
nguy cơ và lời hứa. Theo quan sát của tôi, phong trào này dường như là một trải
nghiệm tốt, tạo ra một ý thức mới về cộng đồng Cơ đốc giáo, một sự quan tâm và
chia sẻ mới về đức tin, hy vọng và tình yêu, và đó là một sự kiện mang tính khẳng
định và tích cực. Trong những vòng tròn khác, bao gồm cả vòng tròn của chúng
ta, trải nghiệm này gặp phải sự đối kháng, tạo ra sự chia rẽ và căng thẳng, và
thật không may, là mang tính phe phái và tiêu cực…hiện nay, chủ nghĩa Tân Ngũ
Tuần lại quá mơ mộng và tự do đến mức không thể mô tả được và chắc chắn không sở
hữu bất cứ thứ gì giống như một thần học chuẩn mực. Điều này có thể là do sự
phát triển gần đây, tính chủ quan và sự đa dạng đáng kể trong cách diễn đạt của
nó. Bất kỳ ai cho rằng mình hiểu chủ nghĩa Tân Ngũ Tuần sẽ nhanh chóng nhận ra
sự kiêu ngạo của mình khi đọc một chút cuốn sách hướng dẫn dày 572 trang của
Walter J. Hollenweger[1].
trong tác phẩm The Pentecostals [2].
Vì nó là một phong trào, tuy nhiên, hoặc tốt hơn nữa, là một tâm linh, và vẫn
còn thiếu thần học được diễn đạt đầy đủ, chúng ta vẫn còn các cơ hội để thảo
luận và nghiên cứu hiệu quả đối với chủ đề này…Một trong những người thúc
đẩy phong trào Charismatic trong Giáo hội Công giáo Rôma, Kilian McDonnell,
nhìn nhận tình hình theo cách này: Một trong những vấn đề chính của phong trào
Charismatic là thiếu tài liệu chú giải phê bình. Có rất nhiều người sử dụng
Kinh thánh và nhiều nhóm họp với nhiều lời kêu gọi khác nhau đối với Kinh
thánh, nhưng ít có nghiên cứu chú giải nghiêm túc. Những người Charismatic
trong các giáo hội lịch sử đã quá chỉ trích việc chú giải và thần học của phong
trào Ngũ tuần cổ điển. Phong trào Ngũ tuần cổ điển coi thế mạnh của mình là
truyền bá, chỉ đề cập đến một lĩnh vực mà các giáo hội lịch sử có thể học hỏi.
Nhưng sẽ là một sai lầm nghiêm trọng nếu tiếp quản cách giải thích Kinh Thánh
Pentecostal cổ điển mà không xem xét cẩn thận. "Sai lầm nghiêm trọng"
này mà theo Kilian McDonnell chỉ ra thì trong một số nhóm đang lẩn tránh.
Các nhà thần học trong nhiều truyền thống khác nhau đang nỗ lực tìm cách khám
phá nền tảng Kinh thánh và thần học có sẵn để giải thích toàn diện tinh thần mới
này. (Walter J. Hollenweger, Arnold Bittlinger, David J. de Plessis…)[3]
Giải nghĩa Kinh thánh là điều cần thiết để có một cách diễn giải
Kinh thánh hợp lệ. Thay vì ngoan đạo khăng khăng rằng chúng ta sẽ chỉ để Chúa
nói với chúng ta qua Lời của Người, chúng ta cho rằng để đảm bảo chúng ta nghe
được tiếng Chúa chứ không phải tiếng của nền văn hóa hoặc thành kiến của
riêng chúng ta, chúng ta cần phải diễn giải Kinh thánh theo cách có hệ thống và
cẩn thận. Chúng ta cần phải có Giải nghĩa Kinh thánh đúng đắn. Nếu
chúng ta muốn tự mình hiểu được chân lý của Chúa (và để dạy hoặc rao giảng chân
lý đó cho người khác), chúng ta phải khám phá chính xác điều Chúa muốn truyền đạt.
Một hệ thống hermeneutics cẩn thận cung cấp phương tiện để người diễn giải đi đến
ý định của văn bản để hiểu những gì Chúa muốn truyền đạt thông qua tâm trí và
bàn tay con người. Một cách tiếp cận cẩn thận đối với Giải nghĩa Kinh
thánh cung cấp phương tiện để người diễn giải đi đến những gì Chúa muốn
truyền đạt. Một số Cơ đốc nhân bảo thủ lạm dụng Kinh thánh bằng cách đưa ra bằng
chứng. Họ sử dụng Kinh thánh như một cuốn danh bạ điện thoại gồm các văn bản mà
họ trích dẫn theo từng chương và từng câu để chứng minh quan điểm của mình. Điều
này có thể dẫn đến nhiều sự bóp méo và lỗi lầm có thể tránh được bằng cách sử dụng
Giải nghĩa Kinh thánh. Việc Giải nghĩa Kinh thánh bảo
vệ Kinh Thánh khỏi việc sử dụng sai mục đích của những người cố ý hoặc vô tình
bóp méo Kinh Thánh vì mục đích riêng của họ. Giải nghĩa Kinh thánh
đúng đắn cung cấp khuôn khổ khái niệm để diễn giải đúng đắn thông qua việc chú
giải chính xác. Chú giải Kinh thánh đưa lý thuyết giải thích của một người
vào thực hành. Do đó, Giải nghĩa Kinh thánh đúng đắn sẽ tạo ra các
phương pháp chú giải đúng đắn. (William W. Klein, Craig L. Blomberg, and Robert
L. Hubbard, Jr., trong tác phẩm Hướng dẫn Giải nghĩa Kinh Thánh)
[4]
THÁNH KINH & ÂN TỨ NÓI TIẾNG LẠ
Có vẻ như ít người biết rằng các thuật ngữ nổi bật cho các ân tứ nghi lễ thuộc
linh, charismata[5],
pneumatika[6],
chỉ giới hạn ở Phao-lô và không xuất hiện trong Sách Công vụ, thậm chí không một
lần. Và không phải tất cả mọi người đều biết rằng cụm từ "báp-têm bằng Đức
Thánh Linh" là một cụm từ trong các sách Phúc âm xuất hiện hai lần trong
Sách Công vụ, nhưng nó khó có thể là cụm từ của Phao-lô. Trong khi mối quan hệ
giữa Công vụ và các lá thư Cô-rinh-tô dễ dàng là một nghiên cứu hỗ trợ nhau.
Đầu tiên là mô tả về Lễ Ngũ tuần của Công vụ, chương hai, và cuộc thảo luận của
Phao-lô về các ân tứ thuộc linh trong I Cô-rinh-tô 12-14 là hai lời tường thuật
về các hiện tượng liên quan nhưng khác nhau. Những người đọc Sách Công vụ trong
khuôn khổ của Lễ Ngũ tuần cũ hơn dễ dàng cho rằng những gì đã xảy ra khi đó là
một mô hình bắt buộc đối với chúng ta ngày nay. Họ nhấn mạnh vào tính lặp lại của
cái được gọi là "phép báp têm bằng Đức Thánh Linh" như một kinh nghiệm
sau khi cải đạo, bằng chứng ban đầu là "nói tiếng lạ", và tất cả những
điều này đều dựa trên dữ liệu từ Sách Công vụ. Hiện tại, chúng ta có thể bỏ qua
những khác biệt giữa những người theo thuyết ân tứ ngày nay liên quan đến một số
mục này, nhưng khó có thể cho rằng những gì đã diễn ra vào thời điểm đó phải xảy
ra ngay bây giờ ở bất kỳ nơi nào hoặc thời điểm nào. Quá nhiều thứ được xây dựng
sau đó trên giả định này - rằng có hai loại Cơ đốc nhân, những người có
"phép báp-têm bằng Đức Thánh Linh" và những người không có; rằng có
hai loại Hội chúng, những Hội chúng là phúc âm trọn vẹn, và những Hội
chúng vẫn nằm ở đâu đó giữa Lễ Phục sinh và Lễ Ngũ tuần, sống sau những cánh cửa
đóng kín, biết rằng Chúa Giê-su đã chết và sống lại, nhưng không biết gì về thực
tế của phép báp-têm bằng Đức Thánh Linh. Ngoài việc thiết lập [phong trào]
Ngũ tuần (Pentecostalism), ít Cơ đốc nhân đọc Công vụ chương hai, theo cách
này. Hơn nữa, giả định rằng mọi thứ đã xảy ra sau đó phải xảy ra bây giờ là
hoàn toàn không có cơ sở. Mọi thứ trong Kinh thánh đều là một sự ủy nhiệm,
nhưng không phải tất cả đều là mô hình bắt buộc.[7]
NÓI TIẾNG LẠ
Từ này không có trong kinh thánh, dịch nghĩa từ văn bản gốc γλῶσσα (glóssa: Tongue, Language) có
nghĩa là Lưỡi, Ngôn ngữ [8]
Những ai sử dụng bản KJV (King Jame Version) sẽ có chữ mô tả ‘unknown tongue’
mô tả “nói tiếng lạ”, đây là từ mà không hề có trong bản tiếng Hy
lạp, chỉ đơn giản là “Ngôn ngữ”.
Các sứ đồ trong Lễ Ngũ tuần đầy dẫy Đức Thánh Linh, và bắt đầu
nói các ngôn ngữ khác, theo như Thánh Linh cho họ nói. ' (Công vụ 2:4,
VIE2010), chỉ đơn giản là các sứ đồ nói bằng một ngôn ngữ khác mà
những người chứng kiến phải kinh ngạc: “Tất cả những người đang nói đó
không phải là người Ga-li-lê sao? Vậy sao mỗi người chúng ta đều nghe họ nói tiếng
bản xứ của mình? Nào người Bạt-thê, Mê-đi, Ê-la-mít, kẻ ở tại Mê-sô-pô-ta-mi,
Giu-đê, Cáp-pa-đốc, Pông, A-si-a, Phi-ri-gi, Pam-phi-ly, Ai Cập, các vùng thuộc
Li-by gần Sy-ren; nào du khách từ Rô-ma đến, cả người Do Thái hoặc người theo đạo
Do Thái, người Cơ-rết và Ả-rập nữa, chúng ta đều nghe họ dùng ngôn ngữ chúng ta
mà nói về những việc quyền năng của Đức Chúa Trời.” ' (Công vụ 2:7-11, VIE2010)
Về Ân tứ nói tiếng lạ trong 1 Cô-rinh-tô 14: 2, chỉ bản King James
thêm chữ Unknown trước chữ Tongues: 'For he that speaketh in an unknown
tongue speaketh not unto men, but unto God: for no man understandeth him;
howbeit in the spirit he speaketh mysteries. ' (1 Corinthians 14:2, KJV)
Từ này không hề có trong bản gốc tiếng Hy Lạp:
Và Thánh Kinh cũng mô tả chính xác là “Ngôn ngữ”, như vậy thuật
ngữ này từ đâu ra?
Kinh Thánh không ra lệnh cho tất cả các tín đồ phải nói tiếng lạ. Tuy nhiên,
có một lệnh truyền “phải đầy dẫy Đức Thánh Linh hoặc bước đi theo Đức Thánh
Linh” (Ê-phê-sô 5:18; Ga-la-ti 5:16). Mặc dù 1 Cô-rinh-tô 12:4-11 truyền đạt
cho chúng ta rằng mọi tín đồ đều có ít nhất một ân tứ thuộc linh, và một số người
có ân tứ nói tiếng lạ, nhưng không phải tất cả đều sở hữu ân tứ nói tiếng lạ…[một
nghiên cứu của] Culpepper lưu ý: Những người theo thuyết ân tứ có cơ sở Kinh
Thánh nào để giải thích tiếng lạ là dấu hiệu cho thấy một người đã nhận được
phép báp-têm bằng Đức Thánh Linh? Những người theo thuyết ân tứ thường giải
thích điều này theo các dòng sau: Khi Phao-lô hỏi những người Ê-phê-sô, “Anh em
đã nhận được Đức Thánh Linh khi anh em tin chưa?” (Công vụ 19:2), ông mong đợi
họ có thể trả lời rất rõ ràng theo cách này hay cách khác. Đối với hội thánh sơ
khai, việc nhận được Đức Thánh Linh là một kinh nghiệm rất rõ ràng thường đi
kèm với các biểu hiện của thuyết ân tứ, trong đó nổi bật nhất là nói tiếng lạ.
Nói tiếng lạ là một trong những biểu hiện bên ngoài của sự giáng lâm của Đức
Thánh Linh vào Lễ Ngũ Tuần (Công vụ 2). Các nhà thần học lập luận rằng sự kiện
này vào Lễ Ngũ Tuần với Đức Thánh Linh giáng lâm trên các sứ đồ và nói tiếng nước
ngoài (tiếng lạ) là một sự kiện thiết lập nên hội thánh sơ khai. Tuy nhiên, liệu
ân tứ nói tiếng lạ có áp dụng cho hội thánh đương thời như nhiều mục sư theo
thuyết ân tứ rao giảng không? John MacArthur trả lời câu hỏi này một cách đặc
biệt, ông tuyên bố: Tôi tin rằng lịch sử, thần học và Kinh thánh đã thuyết phục
rằng tiếng lạ đã chấm dứt trong thời đại các sứ đồ. Và khi điều đó xảy ra,
chúng đã chấm dứt hoàn toàn. Phong trào ân tứ đương thời không đại diện cho sự
hồi sinh của tiếng lạ trong Kinh thánh. Đó là một sự sai lệch tương tự như việc
nói tiếng lạ giả mạo ở Cô-rinh-tô. Có bằng chứng nào cho thấy tiếng lạ đã chấm
dứt không? Đầu tiên, tiếng lạ là một ân tứ kỳ diệu, mặc khải, và như chúng ta
đã lưu ý nhiều lần, thời đại của phép lạ và mặc khải đã kết thúc với các sứ đồ.
Những phép lạ cuối cùng được ghi chép trong Tân Ước xảy ra vào khoảng năm 58
sau Công Nguyên, với các phép chữa lành trên đảo Malta (Công vụ 28:7-10). Từ
năm 58 đến năm 96 sau Công Nguyên, khi John hoàn thành sách Khải Huyền, không
có phép lạ nào được ghi chép. Những ân tứ phép lạ như nói tiếng lạ và chữa lành
chỉ được đề cập trong 1 Cô-rinh-tô, một lá thư đầu tiên. MacArthur khẳng định,
“Ơn nói tiếng lạ kém hơn các ơn khác. Nó được ban cho chủ yếu như một dấu hiệu
(1 Cô-rinh-tô 14:22) và không thể gây dựng hội thánh một cách đúng đắn. Nó cũng
dễ bị lạm dụng để gây dựng bản thân (1 Cô-rinh-tô 14:4). [9]
CÁC PHÂN TÍCH
Chắc chắn là cần thiết và hữu ích khi xem xét các nguồn đáng tin cậy để có
điểm khởi đầu thần học, nhưng cuối cùng, Kinh thánh phải xác nhận những gì
chúng ta tin là sự thật. [10]
PHÂN ĐOẠN THÁNH KINH CẦN ĐƯỢC HIỂU ĐÚNG
Ma-thi-ơ 12:22-31; Hê-bơ-rơ 13:8; Mác 16:17-18; và 1 Phi-e-rơ 2:24. Đầu
tiên, trong Ma-thi-ơ 12:22-31, quan điểm của MacArthur khẳng định những người
theo phong trào ân tứ đã hiểu sai những đoạn văn này để bảo vệ việc sử dụng các
ân tứ thuộc linh của họ, chẳng hạn như nói tiếng lạ và đặt tay để chữa bệnh hoặc
bất kỳ hành động nào mà phong trào ân tứ coi là hành động của Chúa Thánh Thần,
nếu bất kỳ ai bác bỏ sẽ rất gần với việc phạm tội không thể tha thứ là phạm thượng
chống lại Chúa Thánh Thần [11].
Phân đoạn Thánh Kinh quan trọng để phân tích ở chủ đề này nằm trong 1
Cô-rinh-tô 12-14, và Tolmie đã xây dựng một phương pháp tiếp cận khuôn khổ lý
thuyết tối thiểu, để phân tích tu từ của văn bản bằng cách sử dụng hướng dẫn
các bước, về tất cả các thành phần liên quan đến việc phân tích chiến lược tu
từ chủ đạo của tác giả [Phao-lô]. Genade đã đặt tên là 'phân tích thuyết phục
do văn bản tạo ra' (text-generated persuasion-analysis: TGPA) cho phương pháp
luận này và ông đã chính thức hóa các hướng dẫn theo trình tự vì mục đích trình
bày có trật tự. Các hướng dẫn này bao gồm các bước sau:
• Xác định chiến lược tu từ chủ đạo • Tạo ra một phân tích chi tiết về chiến
lược tu từ của tác giả • Xác định các chiến lược tu từ hỗ trợ. • Xác định các kỹ
thuật tu từ[12]
Để hiểu được tình huống dẫn đến việc viết 1 Cô-rinh-tô, cần phải lần theo những
gợi ý về lý do tại sao nó được viết từ bức thư. Điều này sẽ được thực hiện ngắn
gọn bằng cách xem xét những gợi ý về tình huống tu từ trong toàn bộ 1
Cô-rinh-tô. Điều này dựa trên sự hiểu biết rằng tình huống dẫn đến việc viết 1
Cô-rinh-tô có thể đã định hướng sự thuyết phục của Phao-lô.
Hoàn cảnh dẫn đến việc viết 1 Cô-rinh-tô theo góc nhìn tu từ. Có hai đoạn
văn chính mà các học giả dựa vào để cung cấp cho chúng ta những gợi ý về hoàn cảnh
dẫn đến việc viết 1 Cô-rinh-tô. Đó là: • 1 Cô-rinh-tô 1:11, nơi Phao-lô nói,
'vì tôi đã được người của Cơ-lô-ê (Chloe) cho biết về anh em, hỡi anh em của
tôi, rằng giữa anh em đang có những tranh cãi' [ἐδηλώθη γάρ μοι περὶ ὑμῶν, ἀδελφοί
μου, Đây là một trong những điều đáng chú ý nhất. Phao-lô chỉ ra rằng ông ấy đã
được người của Cơ-lô-ê thông báo về những 'cuộc cãi vã' [ἔριδες] hiện có. Và
lý do tiếp theo • 1 Cô-rinh-tô 7:1, nơi Phao-lô nói, 'bây giờ để đáp lại những
vấn đề bạn đã viết: đàn ông không quan hệ tình dục với đàn bà là điều tốt' [περὶ
δὲ ὧν ἐγράψατε, καλὸν ἀνθρώπῳ γυναικὸς μὴ ἅπτεσθαι]. Phao-lô trả lời thêm những
vấn đề khác mà họ đã viết trong các chương tiếp theo 1 Cô-rinh-tô 7; một người
có vấn đề liên quan đến các ân tứ thuộc linh hoặc các ân tứ thuộc linh [περὶ δὲ
τῶν πνευματικῶν 1 Cô-rinh-tô 12:1] là phần chính của nghiên cứu trong 1
Cô-rinh-tô 12:1–12:31a.[13]
Câu 1 Chương 12 bắt đầu, ‘Thưa anh em, tôi không muốn anh em không
biết gì cả về các ân tứ thuộc linh’, từ các ân tứ thuộc linh cần được
dịch là ‘những người tâm linh’ hoặc ‘những vấn đề tâm linh’ theo văn
bản tiếng Hy Lạp, không phải là Ân tứ thuộc linh [14].
Mặc dù ông cáo buộc người Cô-rinh-tô là thiếu hiểu biết trong 1 Cô-rinh-tô
12:1, nghi ngờ liệu họ có tâm linh như họ tuyên bố hay không, do họ quay trở lại
với những hành động tương đương với chủ nghĩa ngoại giáo, tuy nhiên ông vẫn tỏ
ra thông cảm và yêu mến họ bằng cách gọi họ là 'những người đồng đức tin' [ἀδελφοί]
(1 Cô-rinh-tô 12:1)… Sự thiếu hiểu biết của họ khiến họ không nhận ra rằng họ
có quan điểm sai lệch về Chúa. Vì lý do này, Phao-lô cho họ biết rằng “không ai
nói bởi Đức Thánh Linh của Đức Chúa Trời mà lại nói rằng: ‘Đức Chúa Jêsus đáng
bị nguyền rủa’; và không ai có thể nói: ‘Chúa Giêsu là Chúa’, ngoại trừ bởi
Chúa Thánh Linh’ λέγει Ἀνάθεμα Ἰησοῦς, καὶ οὐδεὶς δύναται εἰπεῖν·Κύριος Ἰησοῦς
εἰ μὴ ἐν πνεύματι ἁγίῳ] – (1 Cô-rinh-tô 12:3). Vì vậy, chúng ta thấy Phao-lô sử
dụng nhiều biện pháp tu từ khác nhau trong phần này để thuyết phục người
Cô-rinh-tô chấp nhận sự sửa sai của ông.[15]
• Có phải tất cả đều là sứ đồ không? [μὴ πάντες ἀπόστολοι] (1 Cô-rinh-tô
12:29) • Có phải tất cả đều là tiên tri không? [μὴ πάντες προφῆται] (1 Cor
12:29) • Tất cả đều là giáo viên? [μὴ πάντες διδάσκαλοι] (1 Cor 12:29) • Có phải
tất cả đều làm được phép lạ? [μὴ πάντες δυνάμεις] (1 Cor 12:29) • Có phải tất cả
mọi người đều có ơn chữa lành không? [μὴ πάντες χαρίσματα ἔχουσιν ἰαμάτων] (1
Cor 12:30) • Có phải tất cả đều nói được tiếng lạ không? [μὴ πάντες γλώσσαις
λαλοῦσιν] (1 Cor 12:30) • Có phải tất cả đều thông dịch được không? [μὴ πάντες
διερμηνεύουσιν] (1 Cô-rinh-tô 12:30). Với những câu hỏi rất rõ ràng,
Phao-lô nhấn mạnh rằng không phải tất cả các thành viên đều có cùng những ân tứ.
Nên không thể nào kết luận hay cho rằng, tất cả mọi người khi nhận
lãnh Đức Thánh Linh đều đi cùng với nói tiếng lạ.
Sau bài giảng của Phi-e-rơ, 'Vậy, những người tiếp nhận lời đó đều
nhận báp-têm, và trong ngày ấy, có độ ba nghìn người thêm vào Hội Thánh. '(Công
vụ 2:41, VIE2010) Nếu tiêu chuẩn tiếng lạ là điều bắt buộc và đi kèm
với việc có Đức Thánh Linh, nhưng trường hợp 3000 người này Kinh
thánh không hề có một ghi chép nào về điều đó. Nên chúng ta
loại bỏ việc nhìn nhận về trường hợp nói tiếng lạ là phải, và
luôn đi cùng với việc có Đức Thánh Linh, và dành cho tất cả mọi
người.
Trong một nghiên cứu của Nee, nhà thần học phân tích về nói tiếng
lạ và đưa ra nhận định rằng, hầu hết việc nói tiếng lạ xảy ra trong các
nhà thờ đương thời là do tà linh chứ không phải do Đức Chúa Trời. Ông chỉ ra rằng
“gần đây một số người tuyên bố rằng họ đã nói tiếng lạ. Tuy nhiên, những gì họ
nói chỉ là tiếng gầm gừ hoặc tiếng hét chứ không phải bất kỳ ngôn ngữ nào mà
các quốc gia khác sử dụng; đó không phải là nói tiếng lạ được ghi lại trong
Kinh thánh” (Watchman Nee. 1997b. Questions and Answers). Hơn nữa, ông
lập luận rằng “trái của Đức Thánh Linh sẽ làm chứng cho việc chúng ta đã nhận
được phép báp-têm bằng Đức Thánh Linh hay chưa. Chúng ta nên cẩn thận rằng việc
miễn cưỡng tìm kiếm việc nói tiếng lạ sẽ gây ra sự giả mạo của tà linh”. Ông cũng
chỉ trích hiện tượng một số tín đồ liên tục lặp lại “Hallelujah” cho đến khi
tâm trí họ trống rỗng và thụ động; họ lầm tưởng rằng họ đã nói tiếng lạ và đã
nhận được phép báp-têm bằng Đức Thánh Linh, thực chất là từ Satan [16]
Việc nói tiếng lạ còn cho đến ngày nay không? 1 Cô-rinth-tô 13 sẽ giải
thích rõ ràng về điều này, chúng ta đi đến câu 10
'nhưng khi sự toàn hảo đã đến, thì sự bất toàn sẽ qua đi. ' (I Cô-rinh-tô 13:10, VIE2010) Lập luận cho rằng sự hoàn hảo là sự tái lâm của Chúa Giê-xu là phân tích không chính xác. Sự bất toàn sẽ qua đi, ( “Các lời tiên tri sẽ hết, ân tứ nói tiếng lạ sẽ ngưng, sự hiểu biết sẽ chấm dứt” I Cô-rinh-tô 13:8-10, VIE2010) khi sự toàn hảo sẽ đến. Sự toàn hảo (teleios: Perfect, complete, mature, full-grown)[17] có gốc từ telos (Hoàn thành)[18] là danh từ, giống: trung tinh. Từ này không thể mô tả là Chúa Giê-xu vì Ngài không thể là Trung tính, nhưng từ sẽ là giống đực, nam tính. Teleios Không thể ám chỉ đến sự trưởng thành hoặc chín chắn về mặt tâm linh, vì giới tính nam thường được dùng để ám chỉ đến sự trưởng thành hoặc chín chắn về mặt tâm linh.[19]
Ngữ pháp của câu văn [câu 8] cũng đặt ra một vấn đề vì đối với lời tiên
tri và kiến thức, động từ bị động [Các lời tiên tri sẽ hết, sự hiểu biết sẽ chấm dứt. ]
được sử dụng cho thấy có một thế lực bên ngoài ngăn cản lời tiên tri và kiến thức,
làm sao Phao-lô có thể đột nhiên sử dụng động từ chủ động cho tiếng lạ? [ân tứ nói tiếng lạ sẽ ngưng]
Ngay cả khi đây là trường hợp, tiếng lạ vẫn khác với hai từ được hiểu rõ là Depose
Middle hay indirect middle? Kata pauo (dừng lại) được
tìm thấy ở dạng chủ động trong văn học Hy Lạp cổ đại nên việc sử dụng pauo
ở dạng giữa không phải vì không có dạng chủ động hoặc dạng biến cách. Trong trường
hợp này, pauo trong 1 Cô-rinh-tô 13:8 không nằm ở dạng giữa biến
cách mà là dạng giữa gián tiếp. Có thể tìm thấy điều tương tự trong Lu-ca 8:24,
nơi có viết, "Gió và dòng nước...." Gió và hồ được mô tả là những cá
nhân tự nguyện phục tùng Đấng Christ và tự dừng lại, và không có một thế lực
bên ngoài nào ngăn cản họ. Sự chấm dứt của tiếng lạ khác với sự chấm dứt của lời
tiên tri và kiến thức. [20]
Phao-lô mô tả trong câu 11-13 tiếp theo, mô tả và lập luận về sự
hiểu biết và kiến thức (như ‘trẻ con’ tương phản với ‘trưởng thành’,
và khi sự hoàn hảo đến, chúng ta sẽ ‘mặt đối mặt’. Và liệu nếu
không phải là Kinh Thánh, thì có điều gì sẽ được xem là đủ ‘trưởng
thành’ ở đây? Nếu Lời Chúa có đủ thẩm quyền tuyệt đối, đủ cho đời
sống tâm linh của một người, thì liệu chúng ta sẽ cần thêm điều gì
khác hơn nữa, nếu không ‘Lời Chúa’ cũng chưa hẳn là sự hoàn hảo, nên
chúng ta lại cần thêm trải nghiệm để bổ sung? Trong 1 Cô-rin-tô 13, các
ân tứ về kiến thức và tiên tri sẽ bị loại bỏ hoặc hủy bỏ bởi sự can thiệp của
Chúa, trong khi các tiếng lạ sẽ tự động chấm dứt. [Theo ngữ pháp trong câu
10] Kiểu gián tiếp của từ dừng lại (pauo) ngụ ý rằng các tiếng lạ sẽ tự động dừng
lại. Điều này được hỗ trợ bởi thực tế là trong câu 9, "các tiếng lạ"
không còn được đề cập nữa. Thời điểm chấm dứt việc nói tiếng lạ không phải là
lúc Chúa Jesus tái lâm, đó là trọng tâm của câu 12. Việc chấm dứt các tiếng lạ
có liên quan đến sự xuất hiện của sự mặc khải "hoàn hảo" của Chúa. [21]
Một mặt khác, tôi cho rằng, nếu trải nghiệm xuất thần [trạng thái
được cho rằng Đức Thánh Linh vận hành trong con người] đó là đúng
trong quyền năng của Đức Thánh Linh, thì những trải nghiệm đó sẽ
khiến chính chúng ta hướng về chân lý, và không thể mâu thuẫn với
lời Kinh thánh. Đức Chúa Trời và Đức Thánh Linh không thể có sự mâu
thuẫn đó, và thực tế những gì đang diễn ra và thực hành nói ‘tiếng
lạ’ qua thực chứng, lại đẩy sự hiểu biết đi xa với Lẽ thật. Như một
ví dụ mô tả của Phúc âm Giăng, “Nếu người nào khát, hãy đến với Ta mà uống.
Người nào tin Ta thì những dòng sông sự sống sẽ tuôn tràn từ lòng mình, đúng
như Kinh Thánh đã nói.” Ngài nói điều nầy chỉ về Thánh Linh mà những người tin
Ngài sẽ nhận được; bởi Thánh Linh chưa giáng xuống, vì Đức Chúa Jêsus chưa được
tôn vinh. '(Giăng 7:37-39, VIE2010), sự xuất hiện của Thánh Linh ‘đúng
như Lời Kinh thánh nói’, luôn là một sự tương đồng và hiệp nhất,
không thể sự xuất hiện của Ngài lại phủ nhận điều còn lại.
Tuy nhiên, một lập luận của Martyn Lloyd-Jones[22]
cũng khiến chúng ta cần cân nhắc thêm các phỏng đoán khác, rằng nếu
sự hoàn hảo được nói đến là Kinh điển Kinh thánh, thì điều đó có nghĩa
là bạn và tôi, những người có Kinh thánh mở ra trước mắt, biết nhiều hơn sứ đồ
Phao-lô về lẽ thật của Đức Chúa Trời.... Điều đó có nghĩa là chúng ta hoàn toàn
vượt trội hơn hội thánh sơ khai và thậm chí hơn cả các sứ đồ, bao gồm cả Sứ đồ
Phao-lô! Điều đó có nghĩa là chúng ta hiện đang ở trong một vị trí mà chúng ta
biết "mặt đối mặt" rằng "chúng ta biết, cũng như chúng ta được Đức
Chúa Trời biết" vì chúng ta có Kinh thánh.... Chỉ có một từ để mô tả quan
điểm như vậy, đó là vô nghĩa.” [23]
Nhưng lập luận này cũng không hoàn toàn vững chắc, để so sánh giữa
trước kia và bây giờ, giữa hiểu biết chưa trọn vẹn và sự đầy trọn
trong thời đại. Phao-lô hoàn tất thư Cô-rinh-tô và sau đó các thư tín
khác hoàn thành. Sự hiểu biết chắc hẳn sẽ phát triển là điều tất
yếu. Một số sách quan trọng nhất của Tân Ước được viết trong cùng một thời kỳ.
Năm trong số hai mươi bảy (bốn sách Phúc Âm và sách Công Vụ Các Sứ Đồ) sách được
viết theo thể ký sự (narrative form), hai mươi bốn thư tín và một sách tiên
tri--Khải Huyền. Những tác giả khác nhau không hội ý để viết (dù đôi khi chúng
ta có thể tìm thấy sắc thái lệ thuộc lẫn nhau), như Phúc Âm Ma-thi-ơ và Lu-ca
liên hệ với Phúc Âm Mác hay II Phie-rơ 3: 15 biết đến các thư tín Phao-lô nhưng
họ viết nhằm thỏa đáp một trong những nhu cầu khác nhau tại địa phương, trong đời
sống và trong sự làm chứng của Cơ Đốc nhân. Mãi đến thế kỷ thứ hai người ta mới
thu thập các văn bản này thành một bộ và đến hậu bán thế kỷ thứ tư Tân Ước mới
được điển chế [Quy điển] với hai mươi bảy sách [24]
Như Chúa đã so sánh, và tuyên bố rằng: “Phước cho mắt được thấy điều
các con thấy! Vì Ta bảo các con, có nhiều nhà tiên tri và vua chúa ước ao thấy
điều các con thấy mà không được thấy, ước ao nghe điều các con nghe mà chẳng được
nghe.” ' (Lu-ca 10:23-24) Như vậy thì không hẳn là một sự so sánh về
kiến thức hay hiểu giữa các thế hệ [Tiên tri cũng nhận mặc khải của
Đức Chúa Trời] phải là điểm trọng tâm mà Thánh Kinh muốn đề cập.
Nhưng nhấn mạnh vào phước hạnh mà chúng ta có ngày hôm nay khi có
thể ‘thấy Chúa’ của mình. Không phải một cảm nhận trội hơn người
xưa, nhưng hiểu biết sẽ phát triển và hoàn thành trong Chúa Giê-xu.
Điều này nảy sinh đến một hướng khác về lập luận “sự hoàn hảo
đến” sẽ kết thúc các ân tứ Tiên tri, nói tiếng lạ hay Kiến thức khá
rõ ràng qua: 'Đức Chúa Trời cũng đã làm chứng bằng những dấu lạ, phép mầu và
nhiều việc quyền năng cùng những ân tứ của Đức Thánh Linh được ban phát theo ý
muốn Ngài. ' (Hê-bơ-rơ 2:4, VIE2010), từ ‘làm chứng’ ở thì quá khứ, sự
xác nhận này đã kết thúc, có nghĩa là điều này đã được xác nhận
rằng các Ân tứ chỉ trong giới hạn các sứ đồ, và đã hoàn thành với
vị sứ đồ sau cùng qua đời [sứ đồ Giăng], nếu những ân tứ này là điều
xác thực các sứ đồ, thì giá trị của chúng sẽ bị phá hủy nếu được chúng được
phép tiếp tục sau thời kỳ tông đồ [25]
Tuy nhiên lập luận này không phù hợp nếu soi chiếu qua phân đoạn I
Cô-rinh-tô 12:28 'Đức Chúa Trời đã sắp đặt trong Hội Thánh: thứ nhất là sứ đồ,
thứ nhì là nhà tiên tri, thứ ba là giáo sư, kế đến là người làm phép lạ, rồi đến
người được ân tứ chữa bệnh, người giúp đỡ, người quản trị, người nói các thứ tiếng
lạ. ' (VIE2010) Chúng ta đều đồng ý rằng mười hai sứ đồ đầu tiên, cộng với
Phao-lô, có một vị trí độc nhất trong lịch sử của Hội thánh. Họ là một phần của
nền tảng của Hội thánh; đã chứng kiến sự phục sinh của Đấng Christ; và được
Ngài đích thân chọn. Vị trí của họ trong Hội thánh với tư cách là mười hai sứ
đồ đầu tiên là duy nhất, và chấm dứt khi người cuối cùng qua đời. Giu-đa đã được
thay thế bởi Ma-thi-ơ trong Công vụ 1:21-26, nhưng không có ghi chép nào trong
Kinh thánh về việc bất kỳ người nào khác bị thay thế mặc dù Công vụ 12:2 ghi lại
cái chết của Sứ đồ Gia-cơ. Tuy nhiên, không có bằng chứng nào trong Kinh thánh ủng
hộ cho lập luận rằng ân tứ của chức sứ đồ chỉ giới hạn trong thời đại các sứ đồ
hoặc trong Mười hai sứ đồ đầu tiên.[26]
Nhà thần học Edgar đã đúng khi nói rằng trọng tâm chung của 1 Cô-rinh-tô
13:8-13 là sự tương phản giữa bản chất vĩnh cửu của tình yêu và bản chất tạm thời
của ân tứ. Tuy nhiên, tình yêu không phải là một món quà, mà là trái của Thánh
Linh (Ga-la-ti 5:22) và là phương tiện để thực hiện các ân tứ thuộc linh (1
Cô-rinh-tô 12:31). Khi xem xét toàn bộ 1 Cô-rinh-tô 13, chúng ta thấy rằng
trong khi các ân tứ là quan trọng, nhưng chúng chỉ là tạm thời. Nhưng miễn là
chúng còn tồn tại, thì chúng phải được thực hiện trong tình yêu thương. [27]
Phao-lô đối với các ân tứ thuộc linh trong hoàn cảnh của người Cô-rinh-tô là
tích cực. Mặc dù không nơi nào ông khuyến khích ý tưởng kỳ lạ rằng mọi Cơ đốc
nhân nên nói tiếng lạ, tuy nhiên, ý định của ông là để điều chỉnh chứ không phải
loại bỏ ơn sủng của tiếng lạ. Mặt khác, Phao-lô kiên quyết phủ nhận bất kỳ ý tưởng
nào cho rằng những tín đồ có ân tứ thuộc linh là một giống loài siêu việt. Đôi
khi, Phao-lô có thể phân biệt giữa một Cơ Đốc nhân thuộc linh và một Cơ Đốc
nhân xác thịt (I Cô-rinh-tô 3:1, 3, 4), nhưng không bao giờ theo cách ám chỉ rằng
một người được báp-têm bằng Thánh Linh và người kia thì không. Điều Phao-lô nói
là, "Vì chúng ta, cả người Giu-đa lẫn người Gờ-réc, nô lệ hay tự do, đều
đã chịu phép báp-têm bằng một Thánh Linh để trở nên một thân thể, và tất cả đều
được uống một Thánh Linh" (I Cô-rinh-tô 12:13). Hoặc một lần nữa, "Ai
không có Thánh Linh của Đấng Christ thì không thuộc về Ngài" (Rô-ma 8:9).
Những gì Phao-lô nói ở đây rất rõ ràng: nếu bạn ở trong Đấng Christ, bạn ở
trong Đức Thánh Linh, và bạn đã và đang được báp-têm bằng Đức Thánh Linh. Trên
thực tế, "phép báp-têm bằng Đức Thánh Linh" là một cụm từ không may mắn
nhất khi sử dụng cho sự cải đạo sau, phước lành thứ hai của Đức Thánh Linh.
Trong cả Lu-ca-Công vụ và Phao-lô, mọi Cơ Đốc nhân đều là một ân tứ, và mọi
tín đồ đều có ân tứ của mình hoặc nhiều hơn một (I Cô-rinh-tô 12:7; 7:7; 12:4,
9, 28, 30, 31). Ân tứ không phải là điều cần thiết để được cứu rỗi, và ân tứ
không làm cho chúng ta tốt hơn những Cơ Đốc nhân khác theo bất kỳ cách nào. Và
không nơi nào chúng ta được khuyến khích nuôi dưỡng ý tưởng rằng tất cả mọi người
đều phải nói tiếng lạ để chứng tỏ sự thuộc linh của họ. Tất cả mọi người đều
là sứ đồ sao? Tất cả mọi người đều là tiên tri sao? Tất cả mọi người đều là
giáo viên sao? Tất cả mọi người đều làm phép lạ sao? Tất cả mọi người đều có ân
tứ chữa bệnh sao? Tất cả mọi người đều nói tiếng lạ sao? Tất cả mọi người đều
thông dịch sao? (I Cô-rinh-tô 12:29-30). Như những người học Kinh Thánh Hy
Lạp biết, Phao-lô diễn đạt những câu hỏi này theo cách mà câu trả lời được mong
đợi rõ ràng là "Không"… Phao-lô gắn sự cứu rỗi cho Chúa
Giê-xu và Thánh Linh. Những người tin được xưng công chính "trong Chúa
Giê-xu" (Ga-la-ti 2: 17) và "trong Thánh Linh" (I Cô-rinh-tô 6:
11), được thánh hiến "trong Chúa Giê-xu" (I Cô-rinh-tô 1: 2) và trong
"Thánh Linh" (Ê-phê-sô 4:30). Người tin Chúa được đóng ấn (Ê-phê-sô
1:13; 4:30), công chính (I Cô-rinh-tô 6:11; Phi-líp 3:8, 9; Rô-ma 14:17) trong
cả hai. Người tin Chúa có trong cả cuộc sống của họ (Ê-phê-sô 2:1; Cô-lô-se
3:4; Rô-ma 8:11), niềm vui của họ (Phi-líp 4:4; Rô-ma 14:17), hy vọng của họ (I
Cô-rinh-tô 15:19; Rô-ma 5:5; Ga-la-ti 6:8), sự giao hảo [thông công] của họ (I
Cô-rinh-tô 1:9; II Cô-rinh-tô 13:14). Ngôi vị và công việc của Đức Thánh Linh
là mối dây liên kết sự sống giữa Cơ Đốc nhân và người tin Chúa trong mọi phương
diện. Đây là lý do tại sao cả Lu-ca và Phao-lô đều không thể hình dung ra một
Cơ Đốc nhân ngoài Đức Thánh Linh. Cuộc sống đầy dẫy Thánh Linh, được
Thánh Linh chiếm hữu luôn có đặc điểm này - một nhận thức vô song về Chúa Jesus
Giê-xu. Trong Tân Ước không có trải nghiệm hay tôn vinh Thánh Linh nào
mà không phải là trải nghiệm và tôn vinh Chúa Giê-xu. Người ta có thể có nhiều
Thánh Linh như người ta có nhiều về Chúa Giê-xu, và về Chúa Giê-xu như người
ta có về Đức Chúa Trời. Việc tìm kiếm kinh nghiệm vì lợi ích của kinh nghiệm,
thậm chí là kinh nghiệm về Chúa Thánh Linh, là phi Kinh Thánh. [28]. Như
vậy chúng ta loại bỏ việc lập luận rằng Nói tiếng lạ là biểu hiện
của một sự phân biệt [điều đó chỉ là một quá trình của
một người cải đạo theo hướng dẫn của Phi-e-rơ ('“Hãy ăn năn, mỗi người
phải nhân danh Đức Chúa Jêsus nhận báp-têm để được tha tội mình, rồi sẽ nhận
lãnh quà tặng là Đức Thánh Linh. ' (Công vụ 2:38, VIE2010) ], một sự
chia rẽ cho kiểu Môn đệ ‘hạng nhất’ và môn đệ ‘hạng thường’ vì cho
rằng không có Đức Thánh Linh. Nói tiếng lạ chỉ là một trong nhiều ân
tứ, và điều ấy không hề đại diện cho một khuôn mẫu cho sự Cứu chuộc
và một lối sống tin kính. Vì ĐƯỢC CHÚA BIẾT (Ma-thi-ơ 7:23) trong mối
quan hệ với Ngài mới là điều hệ trọng (sự ‘nhân danh’ ‘Lạy Chúa, lạy Chúa! Chúng con đã chẳng
từng nhân danh Chúa nói tiên tri, nhân danh Chúa đuổi quỷ, nhân danh Chúa thực
hiện nhiều phép lạ đó sao? không hề mang lại kết quả trong ý định của
Ngài). Lối sống tin kính quay trở lại với điều cơ bản, 'Ngươi
phải hết lòng, hết linh hồn, hết tâm trí, hết sức lực mà kính mến Chúa là Đức
Chúa Trời ngươi.’ '(Mác 12:30, VIE2010) và 'Ta
ban cho các con một điều răn mới, ấy là các con phải yêu thương nhau. Như Ta đã
yêu thương các con thể nào thì các con cũng hãy yêu thương nhau thể ấy. '
(Giăng 13:34, VIE2010) (Và lưu ý Tình yêu dành cho nhau, không
còn là tiêu chuẩn ‘yêu người như [yêu] chính mình’ nhưng theo tiêu chuẩn
(điều răn mới) của Chúa, là yêu ‘như Chúa đã yêu chúng ta’).
Tôi luôn tin vào quyền năng của Đức Thánh Linh và những màu nhiệm
của Đức Chúa Trời ba ngôi, nhưng bất cứ một trải nghiệm nào không
được giải thích hoặc chứng minh bởi Kinh thánh [một cách đúng đắn
trong sự tiếp cận, giải thích, lập luận…] thì điều đó là không đáng
tin cậy và khiến chúng ta cần rất cẩn trọng. Trải nghiệm chủ quan,
thì có lẽ chỉ là giữ cho mình và không ai có thể biết được, nhưng
những biểu hiện của Trải nghiệm đi ngược lại với Lẽ thật là điều
đáng báo động. Và mỗi người tin Chúa cần bám chặt và đủ hiểu biết
mỗi ngày trong lời Chúa, sẽ giữ mình trước sự tấn công của những
‘thế lực’ của Satan. 'Chúng tôi dù sống trong thân xác, nhưng không chiến
đấu theo cách xác thịt. Vũ khí chúng tôi dùng để chiến đấu không phải là những
vũ khí xác thịt, mà là quyền năng của Đức Chúa Trời để phá đổ các thành lũy,
đánh hạ các lý luận và mọi sự kiêu căng chống lại sự hiểu biết Đức Chúa Trời,
và buộc mọi ý tưởng phải thuận phục Đấng Christ.' (II Cô-rinh-tô 10:3-5,
VIE2010)
Ví dụ, khi được hỏi, "Làm sao bạn biết rằng Đức Thánh Linh ngự trong bạn?" Câu trả lời điển hình theo quan điểm của thuyết ân tứ là, "Tôi biết rằng Đức Thánh Linh ngự trong tôi vì tôi đã trải nghiệm điều đó. Tôi đã nói tiếng lạ." Tuy nhiên, những người theo quan điểm Thánh Kinh giải thích, câu trả lời sẽ là: Câu trả lời theo Kinh thánh được tìm thấy trong Rô-ma 8:9, "Nhưng anh em không sống theo xác thịt nhưng theo Thánh Linh, nếu Thánh Linh của Đức Chúa Trời ngự trong anh em. Vậy, nếu ai không có Thánh Linh của Đấng Christ, thì người ấy không thuộc về Ngài." Nếu một người không có Đức Thánh Linh, thì người ấy không thuộc về Ngài. Người ấy không thuộc về Đấng Christ. Người ấy không phải là Cơ Đốc nhân. Nếu tôi là người được cứu, thì tôi có Đức Thánh Linh. Làm sao tôi biết được? Tôi biết vậy vì Đức Chúa Trời phán vậy. Tất cả những ai tin vào Đấng Christ đều đã nhận được Đức Thánh Linh (Giăng 7:39). Phao-lô nói, "Đức Thánh Linh ngự trong chúng ta" (2 Ti-mô-thê 1:14), và điều này đúng với mọi con cái được mua bằng huyết của Đức Chúa Trời. Theo định nghĩa của Đức Chúa Trời (1 Cô-rinh-tô 6:19; Giăng 7:39), một Cơ Đốc nhân là người được Đức Thánh Linh ngự trong lòng và do đó đã nhận được Đức Thánh Linh. Không có người nào được xưng công bình bởi đức tin nhưng không nhận được Đức Thánh Linh. Sự kiện Đức Thánh Linh tiếp nhận và hiện diện ngự trong lòng dựa trên một số kinh nghiệm chủ quan là đáng ngờ. Nhưng phải luôn được dựa trên những tuyên bố trực tiếp của Lời Đức Chúa Trời.
[1]
Richard C. Oudersluys, “Charismatic Theology
and the New Testament,” Ethics and Theology 28, no. 1 (1974): 49.
[2]
W. J. Hollenweger, The Pentecostals: The
Charismatic Movement in the Churches, trans. R. A. Wilson (Minneapolis,
Minnesota: Augsburg Publishing House, 1969).
[3]
Richard C. Oudersluys, “Charismatic Theology
and the New Testament,” 51.
[4]
Lewis D Mathis, “Charismatic and Expository
Preaching: A Case Study of Two Preaching Methods Within the Local Church”
(Doctor of Ministry in Biblical Studies, Liberty University, 2021), 48.
[5]
Strong’s Concordance, “5486. Charisma
[Spiritual Gift/ Ân Tứ Thánh Linh],” Bible Hub: Search, Read, Study the
Bible in Many Languages (Online Parallel Bible Project, n.d.), accessed
January 3, 2024, https://biblehub.com/greek/25.htm.
[6]
Strong’s Concordance, “4151. Pneuma [Spirit/
Linh],” Bible Hub: Search, Read, Study the Bible in Many Languages
(Online Parallel Bible Project, n.d.), accessed December 24, 2024,
https://biblehub.com/greek/4151.htm.
[7]
Richard C. Oudersluys, “Charismatic Theology
and the New Testament,” 51.
[8]
Strong’s Concordance, “1100. Glóssa [Tongue,
Language/ Ngôn Ngữ],” Bible Hub: Search, Read, Study the Bible in Many
Languages (Online Parallel Bible Project, n.d.), accessed December 24,
2024, https://biblehub.com/greek/1100.htm.
[9]
Lewis D Mathis, “Charismatic and Expository
Preaching: A Case Study of Two Preaching Methods Within the Local Church,” 41–43.
[10]
Denny Varghese, “A Biblical Perspective and
Clarification on the Prevalent Understanding and Practice of Tongues in the
Indian Pentecostal Church (IPC)” (Doctor of Ministry, Talbot School of
Theology, 2020), 23.
[11]
Lewis D Mathis, “Charismatic and Expository
Preaching: A Case Study of Two Preaching Methods Within the Local Church,” 45.
[12]
Tsholofelo J. Kukuni, “Spiritually Gifted and
Divided? A Text-Centred Interpretation of 1 Corinthians 12:1–31a,” In die
Skriflig / In Luce Verbi 58, no. 1 (May 31, 2024): 2, accessed December 29,
2024, http://www.indieskriflig.org.za/index.php/skriflig/article/view/3043.
[13]
Tsholofelo J. Kukuni, “Spiritually Gifted and
Divided?,” 2.
[14]
Cambridge Bible for Schools and Colleges, “1
Corinthians 12 [Commentary],” Biblehub, accessed December 29, 2024,
https://biblehub.com/commentaries/cambridge/1_corinthians/12.htm.
[15]
Tsholofelo J. Kukuni, “Spiritually Gifted and
Divided?,” 2.
[16]
Pan Zhao, “Is the Spiritual Man Pentecostal?
Watchman Nee’s Perspective on the Charismatic Experiences,” Religions
14, no. 7 (June 25, 2023): 10.
[17]
Strong’s Concordance, “5046. Teleios
[Perfect/ Toàn Hảo],” Bible Hub: Search, Read, Study the Bible in Many
Languages (Online Parallel Bible Project, n.d.), accessed January 1, 2025,
https://biblehub.com/greek/25.htm.
[18]
Strong’s Concordance, “5056. Telos
[Completion/ Hoàn Thành],” Bible Hub: Search, Read, Study the Bible in Many
Languages (Online Parallel Bible Project, n.d.), accessed January 1, 2025,
https://biblehub.com/greek/25.htm.
[19]
Wilson W Suwanto, “Tongues Will Cease: An
Evaluation of Cessationism Based on 1 Corinthians 13:8-12,” Riwayat:
Educational Journal of History and Humanities 6, no. 4 (2023): 2389.
[20]
Wilson W Suwanto, “Tongues Will Cease: An
Evaluation of Cessationism Based on 1 Corinthians 13:8-12,” 2388.
[21]
Wilson W Suwanto, “Tongues Will Cease: An
Evaluation of Cessationism Based on 1 Corinthians 13:8-12,” 2391.
[22]
“Ten Years, Twenty Million Downloads, One
Faithful Preacher,” Newspaper, Evangelical Times, last modified February
15, 2024, accessed January 2, 2025,
https://www.evangelical-times.org/ten-years-twenty-million-downloads-one-faithful-preacher/.
[23]
Edward Brian Dennis, “The Duration of the
Charismata: An Exegetical and Theological Study of 1 Corinthians 13:10” (Master
of Arts in Biblical Studies, CBN University, 1989), 34.
[24]
Viện Thần Học Tin Lành Việt Nam, Sứ điệp Tân
Ước (Westminster, California: Union University of California, 2007), 6,
https://www.uuc.edu/sreader.php?id=0&src=thuvien/SudiepTanuoc.php&name=CHUONG&enc=2&nl=0.
[25]
Edward Brian Dennis, “The Duration of the
Charismata: An Exegetical and Theological Study of 1 Corinthians 13:10,” 49.
[26]
Edward Brian Dennis, “The Duration of the
Charismata: An Exegetical and Theological Study of 1 Corinthians 13:10,” 61.
[27]
Edward Brian Dennis, “The Duration of the
Charismata: An Exegetical and Theological Study of 1 Corinthians 13:10,” 55.
[28]
Richard C. Oudersluys, “Charismatic Theology
and the New Testament,” 56–58.
*****
THƯ MỤC [TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU & THAM KHẢO]
(Lưu ý: Phần tiếng Việt được dịch & hiệu đính do người viết bài
nghiên cứu này)
Cambridge Bible for Schools and Colleges. “1 Corinthians 12 [Commentary].” Biblehub. Accessed December 29, 2024. https://biblehub.com/commentaries/cambridge/1_corinthians/12.htm.
Denny Varghese. “A Biblical Perspective and Clarification on the Prevalent Understanding and Practice of Tongues in the Indian Pentecostal Church (IPC).” Doctor of Ministry, Talbot School of Theology, 2020.
Edward Brian Dennis. “The Duration of the Charismata: An Exegetical and Theological Study of 1 Corinthians 13:10.” Master of Arts in Biblical Studies, CBN University, 1989.
Lewis D Mathis. “Charismatic and Expository Preaching: A Case Study of Two Preaching Methods Within the Local Church.” Doctor of Ministry in Biblical Studies, Liberty University, 2021.
Richard C. Oudersluys. “Charismatic Theology and the New Testament.” Ethics and Theology 28, no. 1 (1974): 48–59.
Strong’s Concordance. “1100. Glóssa [Tongue, Language/ Ngôn Ngữ].” Bible Hub: Search, Read, Study the Bible in Many Languages. Online Parallel Bible Project, n.d. Accessed December 24, 2024. https://biblehub.com/greek/1100.htm.
———. “4151. Pneuma [Spirit/ Linh].” Bible Hub: Search, Read, Study the Bible in Many Languages. Online Parallel Bible Project, n.d. Accessed December 24, 2024. https://biblehub.com/greek/4151.htm.
———. “5046. Teleios [Perfect/ Toàn Hảo].” Bible Hub: Search, Read, Study the Bible in Many Languages. Online Parallel Bible Project, n.d. Accessed January 1, 2025. https://biblehub.com/greek/25.htm.
———. “5056. Telos [Completion/ Hoàn Thành].” Bible Hub: Search, Read, Study the Bible in Many Languages. Online Parallel Bible Project, n.d. Accessed January 1, 2025. https://biblehub.com/greek/25.htm.
———. “5486. Charisma [Spiritual Gift/ Ân Tứ Thánh Linh].” Bible Hub: Search, Read, Study the Bible in Many Languages. Online Parallel Bible Project, n.d. Accessed January 3, 2024. https://biblehub.com/greek/25.htm.
Tsholofelo J. Kukuni. “Spiritually Gifted and Divided? A Text-Centred Interpretation of 1 Corinthians 12:1–31a.” In die Skriflig / In Luce Verbi 58, no. 1 (May 31, 2024). Accessed December 29, 2024. http://www.indieskriflig.org.za/index.php/skriflig/article/view/3043.
Viện Thần Học Tin Lành Việt Nam. Sứ điệp Tân Ước. Westminster, California: Union University of California, 2007. https://www.uuc.edu/sreader.php?id=0&src=thuvien/SudiepTanuoc.php&name=CHUONG&enc=2&nl=0.
W. J. Hollenweger. The Pentecostals: The Charismatic Movement in the Churches. Translated by R. A. Wilson. Minneapolis, Minnesota: Augsburg Publishing House, 1969.
Wilson W Suwanto. “Tongues Will Cease: An Evaluation of Cessationism Based on 1 Corinthians 13:8-12.” Riwayat: Educational Journal of History and Humanities 6, no. 4 (2023): 2386–2392.
Zhao, Pan. “Is the Spiritual Man Pentecostal? Watchman Nee’s Perspective on the Charismatic Experiences.” Religions 14, no. 7 (June 25, 2023): 833.
“Ten Years, Twenty Million Downloads, One Faithful Preacher.” Newspaper. Evangelical Times. Last modified February 15, 2024. Accessed January 2, 2025. https://www.evangelical-times.org/ten-years-twenty-million-downloads-one-faithful-preacher/.
Nếu ai có tai để nghe, hãy nghe!” (Mác 4:23, VIE2010)


Comments